Ông Đính kể: “Tôi sinh năm 1938 trong một gia đình nhiều đời ở Hà Nội. Từ năm 1954 đến đầu năm 1963, tôi tham gia lực lượng thanh niên xung phong, hoạt động ở một số địa bàn miền núi phía Bắc, sau đó về làm công nhân cơ khí... Tháng 6-1963, tôi chuyển vào làm việc ở Đoàn Điện ảnh Quân đội (nay là Điện ảnh Quân đội nhân dân), đảm nhiệm kỹ thuật ánh sáng, khói lửa.

Đầu tháng 2-1965, tổ quay phim ở Đồng Hới (Quảng Bình) gồm: Nguyễn Quốc Nhàn (quay phim chính), Trần Văn Thạch (người Khmer, quay phim phụ), tôi phụ trách ánh sáng, khói lửa. Tổ quay phim có nhiệm vụ bám sát diễn biến các trận chiến đấu của bộ đội phòng không ở Bảo Ninh, Đồng Hới. Hình ảnh người chiến sĩ cởi trần bên mâm pháo bình thản lấy nút bông ở tai sau trận đánh, được nhà quay phim Nguyễn Quốc Nhàn ghi lại, đã trở thành chi tiết độc đáo trong những thước phim tư liệu sau này. Cũng thời gian này, nhóm làm phim của các đồng chí: Phan Quang Định, Phạm Chơn được cấp trên giao nhiệm vụ cắm chốt tại Đồng Hới-nơi đang diễn ra cuộc chiến đấu ác liệt của quân và dân ta đánh trả máy bay Mỹ. Để có được những thước phim ghi lại tội ác quân thù, các tổ quay phim đều có mặt ở hầu hết trận địa. Tôi nhớ mãi hình ảnh đồng chí Phạm Chơn nằm ngửa xuống dưới đò, quay cảnh mẹ Suốt bình thản chèo đò chở bộ đội qua sông Nhật Lệ dưới những làn bom đạn và tiếng máy bay gầm rít của địch...”.

leftcenterrightdel

 Chiến sĩ Phạm Văn Đính bên trận địa pháo cao xạ 37mm ở tỉnh Hà Tĩnh, tháng 5-1965. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Đầu tháng 4-1965, tổ quay phim của Phạm Văn Đính vào Thanh Hóa để quay phim tài liệu, ghi lại tội ác giặc Mỹ bắn phá cầu Hàm Rồng. Lần này, đồng chí Lê Mậu Bân quay phim chính. Ông Đính kể: “Chúng tôi bố trí máy quay phim trên đồi Quyết Thắng, quay trận địa phòng không 37mm của quân ta. Nhiều hình ảnh trong khói lửa bom đạn được ghi lại, phản ánh sinh động cuộc chiến đấu dũng cảm của quân và dân ta. Chỉ riêng ngày 3 và 4-4-1965, địch huy động hàng trăm lượt máy bay các loại đánh phá cầu Hàm Rồng. Các lực lượng phòng không, không quân của ta đã bắn rơi nhiều máy bay.

Đồng chí Phạm Thành là người đầu tiên quay được thước phim chiếc máy bay rơi ở cầu Hàm Rồng. Đầu tháng 9-1965, đơn vị tiếp tục cử tổ quay phim gồm đồng chí Phùng Đệ (quay phim chính), Châu Giang (người Khmer, quay phim phụ) và tôi nhanh chóng cơ động lên Sơn La. Chúng tôi đã bám đơn vị súng máy phòng không 12,7mm ngày đánh, đêm di chuyển trận địa để chuẩn bị cho trận đánh hôm sau. Thời gian này, chúng tôi không chỉ quay được những cảnh chiến đấu ác liệt trong lửa đạn mà còn quay được những cảnh bộ đội lội dưới bùn di chuyển súng máy 12,7mm trong mưa gió tầm tã; quân, dân ta bắt sống phi công Mỹ. Bộ phim “Tây Bắc đánh Mỹ” đã phản ánh khí thế sục sôi của quân, dân ta ở vùng cao Tây Bắc quyết tâm đánh Mỹ...”.  

leftcenterrightdel
 Cựu chiến binh Phạm Văn Đính. Ảnh: THÁI NGỌC

Đặc biệt, những ngày cuối đời và khi Bác Hồ mất, được sự tin tưởng của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Xưởng phim Quân đội (nay là Điện ảnh Quân đội nhân dân) đã cử một tổ quay phim, gồm các đồng chí: Trần Anh Trà, Nguyễn Thanh Xuân và Phạm Văn Đính làm nhiệm vụ tại Phủ Chủ tịch. Tổ quay phim ghi lại hình ảnh các giáo sư, bác sĩ ngày đêm chăm sóc Người. Nhiều hình ảnh các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội đến thăm, túc trực bên giường bệnh của Bác với vẻ mặt, tâm trạng đầy lo âu khi ở Viện Quân y 108 (nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108).

Những diễn biến trên giường bệnh cũng như giờ phút cuối cùng của Người đều được tổ quay phim ghi lại đầy đủ, trở thành tài sản quý giá của Điện ảnh Quân đội nhân dân. “Chúng tôi được giao nhiệm vụ túc trực 24/24 giờ bên linh cữu của Người. Dù rất xúc động vì nhớ thương Bác nhưng cả tổ đều kìm nén cảm xúc, bình tĩnh ghi lại những hình ảnh cảm động của đồng bào, bạn bè quốc tế đến viếng vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta. Từ những thước phim quý giá ấy, Xưởng phim Quân đội đã xây dựng bộ phim “Bác Hồ sống mãi” đầy xúc động...”, cựu chiến binh Phạm Văn Đính nhớ lại.

THÁI GIANG