Tôi có tên khai sinh là Lê Khánh Hoài, nhập ngũ năm 17 tuổi, được biên chế về đơn vị pháo cao xạ thuộc Tiểu đoàn 11, Binh trạm 11. Một thời gian sau, tôi được điều động làm công tác tuyên huấn tại Binh trạm bộ Binh trạm 13. Giữa đại ngàn Trường Sơn, khi những con dốc dựng đứng buộc người lính phải vứt bỏ dần từng cuốn sách, những kỷ niệm hậu phương cho nhẹ vai gánh, thì với tôi, hai cuốn sổ ấy có nặng thêm hàng tấn cũng phải mang theo bên mình. Bởi trong đó không chỉ có tri thức mà còn có hai nhịp tim bè bạn vẫn đập bồi hồi trên mỗi bước hành quân.
Những nét mực tím và bóng hình ở lại
Nhắc về Thảo “chúa”, cô bạn học thuở thiếu thời, lòng tôi lại dâng lên một nỗi niềm bâng khuâng khó tả. Cho đến tận bây giờ, sau hơn nửa thế kỷ dâu bể, tôi vẫn chưa một lần được gặp lại em. Ngày ấy, Thảo xinh đẹp và dịu dàng, em đã đem tất cả sự nâng niu gửi vào từng trang giấy chép tay để tôi mang ra mặt trận. Giữa những trận địa pháo mù mịt khói bom, mùi thuốc súng khét lẹt lấp đầy khoang mũi, mỗi khi lật mở cuốn sổ ấy, tôi lại như thấy hiện lên gương mặt em dưới ánh đèn thành phố, thấy lại màu mực tím yêu thương sưởi ấm tâm hồn người lính xa nhà.
    |
 |
Tác giả Châu La Việt (ngoài cùng, bên trái) và các bạn văn ở TP Hồ Chí Minh.
|
Từ ngày ấy đến nay, tôi không gặp lại em, cũng chẳng biết em giờ ở nơi nao. Chẳng biết em có còn nhớ tôi không, có còn nhớ những đêm thức trắng chép sách cho người lính trẻ tòng quân? Hay em có biết rằng, cuốn sổ ấy đã đi cùng tôi qua bao lằn ranh sinh tử, đã trở thành báu vật chung của bao đồng đội nơi trận địa Bản Ban trên đất bạn Lào?
Lời hẹn ước dưới hầm kèo
Chiến tranh khốc liệt giội xuống Cánh Đồng Chum-Xiêng Khoảng (Lào) bằng những trận mưa bom. Những đồng đội của tôi, anh Giang hy sinh, anh Chuân bị thương nặng. Giữa lúc đất trời ngả nghiêng, tôi đã gặp anh Hoàng Ngọc Chấp, Chính trị viên Đại đội pháo cao xạ thuộc Tiểu đoàn 11, Binh trạm 11-người chỉ huy dạn dày nhưng có tâm hồn yêu văn chương đến lạ. Những đêm bên gian hầm ẩm ướt, chia nhau bát rau tàu bay luộc, anh lại mượn tôi hai cuốn sổ ấy để “ngốn ngấu” đọc.
Thế nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, giữa những ngày Chiến dịch Z diễn ra từ tháng 12-1971 đến tháng 4-1972, đang vào giai đoạn đỏ lửa nhất, tôi có quyết định điều chuyển về Binh trạm bộ Binh trạm 13 một cách đột ngột. Trong căn hầm kèo ẩm mùi đất đỏ, anh Chấp ngồi thẫn thờ bên mâm cơm chỉ có bát rau tàu bay luộc và mấy cọng măng rừng. Anh vốn là người nóng tính, nhưng hôm ấy anh hiền lạ. Cái vẻ bực dọc vì không giữ được tôi lại tiểu đoàn bộ cứ lặn đi, thay vào đó là một nỗi buồn mênh mông hiện rõ trên những nếp nhăn nơi khóe mắt.
Tôi lặng lẽ thu xếp ba lô. Thực ra, hành trang người lính có gì đâu, ngoài bộ quân phục sờn vai và chiếc võng dù, nhưng thứ nặng nhất chính là hai cuốn sổ tay đang nằm im lìm dưới đáy ba lô. Tôi rút chúng ra, đôi tay run run đặt lên mặt chiếc bàn ghép bằng gỗ thùng đạn.
“Anh Chấp à, em đi rồi... Chiến trường lúc này ác liệt quá, em không dám hứa ngày trở lại gặp các anh”, tôi nhìn vào mắt anh, giọng nghẹn lại: “Em xin tặng lại anh hai cuốn sổ này. Anh là người yêu văn nghệ, yêu cái đẹp, anh hãy giữ lấy nó làm bạn. Nếu chẳng may... nếu một mai em hy sinh, không về được với đơn vị nữa thì anh hãy coi đây là vật kỷ niệm của một người đã mất. Anh giữ hộ em chút hơi ấm của bạn bè Hà Nội nhé!”.
Không gian dưới hầm bỗng chốc đặc quánh lại. Tiếng pháo cầm chừng từ phía xa vọng về nghe như tiếng tim đập lỗi nhịp. Anh Chấp nhìn hai cuốn sổ, rồi nhìn tôi. Đôi bàn tay thô ráp của người chỉ huy từng dạn dày qua bao trận đánh bỗng run lên bần bật. Anh không nói gì, chỉ đột ngột bước tới, dang rộng đôi tay ôm ghì lấy vai tôi.
Đó là một cái ôm thắt ruột. Lần đầu tiên trong đời lính, tôi thấy một người chỉ huy thép như anh lại khóc. Anh khóc không thành tiếng, nhưng những tiếng nấc từ lồng ngực anh rung lên bần bật, thấm đẫm vào vai áo tôi. Những giọt nước mắt nóng hổi, mặn chát tràn ra như bao nhiêu dồn nén của những lần tiễn biệt đồng đội hy sinh, giờ đây trút cả vào giây phút chia xa này.
Mùi cỏ cháy khét lẹt từ ngoài công sự theo gió lùa vào hầm, hòa lẫn với mùi mồ hôi, mùi vải Tô Châu bạc màu. Trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu rằng anh không chỉ khóc thương cho một đứa em, một người liên lạc, mà anh đang khóc vì xúc động cho cả một thế hệ sinh viên xếp bút nghiên vào trận địa-những người coi cái chết nhẹ tựa lông hồng nhưng lại nâng niu từng trang viết như báu vật của đời mình.
Tôi khoác ba lô bước lên khỏi hầm, bóng anh đứng lặng bên cửa công sự cứ nhỏ dần, nhỏ dần giữa khói đạn mịt mùng của vùng Bản Ban. Tôi đi vào vùng lửa, mang theo hơi ấm từ vòm ngực của anh và để lại sau lưng những dòng chữ mực tím-thứ kỷ vật mà khi ấy, cả hai chúng tôi đều ngỡ rằng đó là lời di chúc của một người sắp đi vào cõi vĩnh hằng.
Cuộc hồi sinh của những kỷ vật
40 năm sau, tôi tìm về Cần Thơ. Vừa nhìn thấy tôi, anh Chấp sững người rồi reo lên: “Thằng Hoài! Ôi, đúng là thằng Hoài rồi!”. Trong căn nhà nhỏ ven vùng sông nước, anh kể cho tôi nghe một hành trình kỳ diệu: Anh đã nâng niu hai cuốn sổ ấy suốt những năm tháng chiến tranh, rồi trao lại chúng cho Thái Kế Toại-một nhà thơ-chiến sĩ, sinh viên Khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Anh Chấp bảo: “Mình nghĩ một nhà thơ trẻ như cậu ấy mới xứng đáng là chủ nhân của những trang viết này”.
Tôi vội vã nối máy gọi cho Thái Kế Toại. Qua đầu dây bên kia, Toại xúc động bảo: “Mình vẫn giữ cuốn sổ của Nguyễn Trường Phước-người bạn thân thiết nhất của mình”. Nhưng rồi tim tôi thắt lại khi nghe tin Phước đã không còn nữa. Câu nói gở cửa miệng của tôi 40 năm trước: “Vật kỷ niệm của người đã mất” giờ đây đã vận vào chính người tặng sổ. Phước đã ra đi, nhưng những dòng chữ anh viết vẫn sống, đã đi qua bao tay đồng đội để kết nối chúng tôi lại với nhau.
Nốt lặng giữa Cánh đồng Chum
Nhìn lại hành trình của hai cuốn sổ, tôi chợt nhận ra đó là biểu tượng cho tâm hồn của cả một thế hệ: Thế hệ sinh viên xếp bút nghiên ra trận. Họ mang theo tri thức và mộng mơ vào trận địa, dùng cái đẹp của thi ca để chiến thắng sự tàn khốc của bom đạn.
    |
 |
| Nhà văn Châu La Việt (bên phải) thăm lại chiến trường xưa Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (Lào). Ảnh: VIÊT BẮC |
Trong chuyến trở lại chiến trường xưa vừa qua, đứng giữa Cánh Đồng Chum lộng gió, tôi gọi điện cho anh Chấp đang chăm vợ ốm ở quê nhà. Tôi muốn gửi cho anh chút mùi cỏ cháy của ký ức, chút tiếng gió của nước bạn Lào và cả niềm tự hào về một thời tuổi trẻ đã dâng hiến vẹn nguyên cho Tổ quốc. Anh Chấp ơi, mùi cỏ cháy năm ấy không chỉ là mùi của mất mát. Đó còn là mùi của một sự sống bất diệt-sự sống của những tâm hồn không bao giờ biết cúi đầu, của những nét mực tím không bao giờ phai nhạt trong tim người lính. Có phải thế không người thủ trưởng mẫu mực của tôi?
Nhà văn CHÂU LA VIỆT