Tháng 1-1973, y tá Vũ Hữu Thắng, quân y của Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 36, Sư đoàn 308, do lập thành tích xuất sắc trong chiến đấu, được phong quân hàm Thiếu úy và ra Hà Nội báo cáo điển hình với Cục Quân y, Tổng cục Hậu cần. Khi đó, nhân viên tài vụ Nguyễn Thị Cử, làm nhiệm vụ tại trạm đón tiếp của Cục Quân y, đã tiếp nhận giấy tờ của y tá Vũ Hữu Thắng.

Bà Cử nhớ lại: “Nhìn người lính đeo quân hàm Thiếu úy gầy gò từ chiến trường ra khi ấy, rồi đọc hồ sơ tóm tắt: Tham gia Chiến dịch Đường 9-Nam Lào năm 1971; bắn cháy 2 xe tăng; được kết nạp Đảng tại mặt trận ngày 19-3-1971, sau trận đánh cầu Ka Ki trong Chiến dịch Đường 9-Nam Lào; bị thương tháng 3-1971, đưa về phía sau điều trị; ổn định vết thương lại cùng đơn vị vào chiến trường; tham gia chiến đấu trong 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị; được khen thưởng Dũng sĩ Quyết thắng cấp 2... trong lòng tôi thấy bồi hồi, cảm phục anh. Việc của tôi là kiểm tra giấy cung cấp tài chính, nhưng thấy tôi cứ đọc thành tích của anh nên anh sốt ruột bảo: Giấy tờ của tôi có gì sai sót không đồng chí? Tôi nhìn lên và lúng túng khi bắt gặp đôi mắt sáng, cương nghị của anh, liền nói: Không, anh chiến đấu, bị thương, sức khỏe thế nào? Anh bảo: Cảm ơn đồng chí, sức khỏe tôi ổn định, đủ điều kiện công tác...”.

leftcenterrightdel

Ông bà Vũ Hữu Thắng - Nguyễn Thị Cử tại nhà riêng. Ảnh: HƯƠNG THU

Như là định mệnh, duyên phận để gặp nhau. Thời gian ở trạm đón tiếp ngắn ngủi nhưng sau đó, Thiếu úy Vũ Hữu Thắng luôn tìm cách để gặp lại cô nhân viên tài vụ. Còn Nguyễn Thị Cử cũng không có ý lảng tránh mà đem lòng thương mến anh sĩ quan trẻ.

“Tôi cũng cảm mến cô nhân viên tiếp nhận giấy tờ ở trạm đón tiếp ngay từ buổi đầu tiên. Cô Cử có ngoại hình xinh đẹp, cân đối. Chẳng thế mà cô ấy được lựa chọn vào đội hình của ngành quân y, luyện tập phục vụ Lễ duyệt binh sau khi ta ký Hiệp định Paris vào tháng 1-1973”, ông Thắng kể.

Kết thúc hội nghị báo cáo điển hình, Thiếu úy Vũ Hữu Thắng trở lại đơn vị. Trung đoàn 36 khi đó về đóng quân ở Lương Sơn, Hòa Bình. Còn Nguyễn Thị Cử đi huấn luyện ở Hòa Lạc. Họ không có điều kiện gặp nhau trực tiếp nhưng thường xuyên viết thư cho nhau. Trong những lá thư, họ động viên nhau cùng nỗ lực hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

“Như bây giờ, lớp trẻ gọi là “tình yêu sét đánh”, các cháu ạ. Quen và thư từ cho nhau chỉ khoảng nửa năm, sau Lễ duyệt binh ngày 1-5-1973 thì ông ấy xin đơn vị đi tranh thủ để về gặp tôi. Rất “thần tốc”, ông ấy đề nghị nếu tôi đồng ý thì báo cáo đơn vị và gia đình để tổ chức lễ cưới. Tôi sinh năm 1948, ở xã Vụ Quang, huyện Phù Ninh (cũ), tỉnh Phú Thọ, quê tôi con gái thường lấy chồng sớm, mà lúc đó tôi 25 tuổi, gia đình cũng đã giục lấy chồng. Sẵn lòng yêu mến, cảm phục anh, bố mẹ lại hằng mong mỏi nên tôi đồng ý. Chúng tôi báo cáo đơn vị và gia đình, tổ chức lễ cưới. Hồi ấy gọi là cưới, chứ đơn giản lắm, chỉ một ít bánh kẹo, chè xanh... vài tiết mục văn nghệ. Nhưng đến bây giờ chúng tôi vẫn nhớ, thật hạnh phúc biết nhường nào”, bà Cử nhớ lại.

Cưới xong, vợ chồng ông bà chở nhau bằng xe đạp về ra mắt ở Vụ Quang quê bà và Vân Phú (khi đó thuộc huyện Lâm Thao, sau này chuyển về TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) quê ông. Năm 1974, bà sinh con gái đầu lòng. Vì chồng đóng quân ở xa, bà được điều chuyển về làm công tác tài vụ của Viện Thương binh 27-7. Khi Viện Thương binh 27-7 giải tán, bà chuyển về công tác ở Trường Quân chính Quân khu 2 và nghỉ hưu với quân hàm Thượng úy chuyên nghiệp.

Tháng 4-1977, ông Vũ Hữu Thắng chuyển ngành về công tác ở Đội Khảo sát thuộc Công ty Xây dựng Vĩnh Phúc, tỉnh Vĩnh Phú và nghỉ mất sức năm 1985.

Ông bà có 3 người con, 2 gái, 1 trai. Hai người con rể đều phục vụ trong Quân đội. Hiện nay, ông bà sống hạnh phúc bên nhau và tích cực tham gia các hoạt động của Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi phường.

THÁI XUÂN THỦY