19 tuổi, đứng trước “ngã ba đường”, Đỗ Quốc Phong quyết định tham gia lực lượng TNXP và được phân về Đội K53, đơn vị duy nhất của Trung ương Đoàn nhận nhiệm vụ đi B. Ngày 16-8-1965, K53 làm lễ xuất quân lên đường vào Nam làm công tác thanh vận ở vùng giải phóng Trị Thiên. Tuy nhiên, sau hơn hai tháng hành quân, khi vào đến địa bàn A Lưới, Thừa Thiên, do địch chiếm lại vùng giải phóng nên cấp trên lệnh cho K53 quay trở lại. Cuối năm 1965, đơn vị ông nhận nhiệm vụ mở một tuyến đường giao liên mới. “Để thực hiện nhiệm vụ, cấp trên quyết định thành lập trung đội trinh sát bảo vệ hành lang vận tải, tôi là một trong những đội viên trinh sát đầu tiên của K53. Nhiệm vụ chính của trung đội trinh sát là tìm bến đưa hàng qua sông Ba Lòng, đoạn qua cầu Cà Ná, ở giữa cứ điểm 241 và đồn Đầu Mầu của địch trên Đường 9...”, ông Phong nhớ lại.

Cuối năm 1966, đơn vị ông được bổ sung thêm nhiệm vụ phối hợp với Đoàn Vận tải Bắc Sơn (phần lớn đội viên là người Tà Ôi, Vân Kiều) và Tiểu đoàn 8 Vận tải-Quân khu Trị Thiên. Lực lượng này làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí, lương thực, đưa cán bộ, chiến sĩ vào Nam, cáng tải thương binh ra Bắc điều trị với địa bàn hoạt động từ bờ Nam sông Bến Hải đến phía Bắc đèo Hải Vân. Ông kể: “Hằng đêm, chúng tôi vận chuyển hàng hóa cùng nhiều cán bộ, chiến sĩ vượt qua con sông này trên những con thuyền độc mộc, mỗi chuyến chở được 6-7 người. Để bảo đảm bí mật, an toàn, chúng tôi bố trí lực lượng chia làm hai chốt: Hai trung đội ở bờ Bắc làm nhiệm vụ cảnh giới, bảo vệ những chuyến đò; còn một tiểu đội ở bờ Nam chuyên làm nhiệm vụ chèo đò. Nhiều đêm cao điểm, chúng tôi chèo đò mải miết đến rạng sáng để đưa hàng hóa, bộ đội qua sông. Dòng nước ở đây chảy xiết, đáy sông nhiều dãy đá ngầm nên người lái đò phải thông thạo, hiểu biết từng “ngọn nguồn lạch sông”. Theo luồng di chuyển, chiều vào, chúng tôi chở vũ khí, đạn dược và đưa bộ đội qua sông; chiều ra thì chở thương binh và công văn, tài liệu...”.

- Khối lượng hàng hóa ngày càng nhiều, yêu cầu vận chuyển quân, thương binh ngày càng tăng, vậy làm thế nào đơn vị của bác đáp ứng được yêu cầu cấp trên giao?-tôi hỏi. Như chạm đúng mạch cảm xúc, ông Phong phấn chấn kể:

- Hồi ấy, núi rừng Trường Sơn còn những cây cổ thụ to bằng 2, 3 người ôm. Tôi cùng một số bà con Vân Kiều có nhiều ngày vào rừng tìm hiểu, nghiên cứu chất liệu gỗ, địa hình rừng núi... Cuối tháng 12-1966, trên cương vị Tiểu đội trưởng, tôi đề xuất với anh Quang, Chỉ huy trưởng tuyến vượt sông Ba Lòng cùng Xã đội phó Già Mó và một số du kích người Tà Ôi, Vân Kiều vào rừng tìm gỗ để làm thuyền mới, to, dài, có thể chở được hơn 30 người. Chúng tôi chọn cây gỗ có đường kính 1,2-1,5m, dài khoảng 8-10m (gấp 5-6 lần so với thuyền cũ). Việc hạ cây gỗ to và làm thuyền vô cùng gian nan, vất vả. Mọi người chủ yếu dùng rìu để khoét ruột thân cây gỗ, khoét đến đâu dùng lửa để hàn đốt đến đó... Sau gần hai tháng chúng tôi làm việc cả ngày đêm, con thuyền lớn mới xong. Việc di chuyển thuyền từ trong rừng xuống sông Ba Lòng cách khoảng 1km cũng lắm gian nan. Chúng tôi phải dùng dây kéo, hệ thống dây tời, ròng rọc, con lăn... mất gần hai tuần mới di chuyển cho thuyền hạ thủy xuống bến sông Ba Lòng trong niềm vui vỡ òa của mọi người...

Làm được con thuyền vận chuyển khối lượng lớn đã khó, huấn luyện được người chèo thuyền càng khó hơn. Nhớ lại những ngày “đánh vật” với mái chèo, ông Phong bảo: “Học chèo thuyền rất khó, vì người đứng trên thuyền luôn có cảm giác tròng trành, không cẩn thận là ngã và lật thuyền ngay. Để làm chủ con thuyền mới, tôi đã kiên trì học cách đứng chéo chân, tay trái dùng sào chống, tay phải dùng mái chèo quạt nước. Tôi được anh Lợi (quê ở Cam Lộ, Quảng Trị) và anh Xuân (quê ở Lệ Thủy, Quảng Bình) trực tiếp dạy chèo thuyền từ đơn giản đến phức tạp. Sau gần một tháng, nhờ sự chỉ dạy tận tình của anh Lợi, anh Xuân, tôi đã có thể làm chủ mái chèo và dần dần điều khiển được con thuyền...”.

leftcenterrightdel

Ông Đỗ Quốc Phong (ngoài cùng, bên trái) trong lần dự Lễ kỷ niệm 67 năm Ngày truyền thống lực lượng thanh niên xung phong Việt Nam, tháng 7-2017. Ảnh do nhân vật cung cấp 

Ông Phong cho biết, thuyền thường bắt đầu rời bến từ đêm hôm trước đến rạng sáng hôm sau. Những người lái thuyền ở sông Ba Lòng luôn phải đối mặt với tử thần, ở giữa ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Trên trời, máy bay trinh sát và máy bay B-52 của Mỹ quần thảo liên tục, dưới sông, dòng nước chảy xiết và nhiều đá ngầm. Khi máy bay địch thả pháo sáng, trên thuyền, mọi người phải ngồi bất động, lợi dụng bóng tối và dòng chảy để ngụy trang. Lúc đó, nếu phát ra tiếng động mạnh hay chỉ cần một ánh lửa lóe lên, bom đạn địch sẽ trút xuống ngay lập tức...

“Sau khi vận chuyển hàng xong, chúng tôi làm chìm, giấu thuyền dưới đáy sông để tránh bị địch phát hiện. Khi làm nhiệm vụ, mọi người lại cùng nhau đưa thuyền lên, lắc mạnh, “đánh sóng” cho nước thoát ra ngoài để thuyền nổi lên. Cuối năm 1967, K53 có hai đại biểu là tôi và Đại đội trưởng Đại đội 3 Nguyễn Nam Hải (quê ở Mỹ Đức, Hà Tây) được cử đi dự đại hội thi đua của Quân khu Trị Thiên. Tôi và anh Hải được nhận bằng khen và danh hiệu Dũng sĩ Quyết thắng”, ông Phong cho biết.

Từ năm 1971 đến 1973, ông Phong đi học tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1. Cuối năm 1973, tốt nghiệp ra trường, ông được phân công về Ty Giáo dục Hà Tây, sau đó làm giáo viên Trường cấp 3 Ứng Hòa A, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây. Trước khi nghỉ hưu năm 2006, ông làm cán bộ thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hà Tây... Trong nhiều năm, ông đảm nhiệm Phó chủ tịch, rồi Chủ tịch Hội Cựu TNXP TP Hà Nội. Hiện ông là Trưởng ban liên lạc Đội TNXP K53 kiêm Trưởng ban liên lạc lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước Thủ đô Hà Nội.

THÁI GIANG