Thiếu tướng Trần Văn Niên (thường gọi là Tư Niên) sinh năm 1933, tại xã Hòa Hưng, huyện Giồng Riềng, tỉnh Rạch Giá (nay là xã Hòa Hưng, tỉnh An Giang), trong gia đình có 10 anh chị em. Ngày 19-5-1950, chàng trai 17 tuổi Tư Niên vinh dự được kết nạp Đảng. Cùng thời gian đó, các đơn vị bộ đội chủ lực về đóng quân, lứa học sinh nam cùng thời háo hức rủ nhau viết đơn tình nguyện tòng quân cầm súng đánh Tây. Ngày 20-9-1950, Tư Niên chính thức bước vào quân ngũ, trở thành chiến sĩ đại đội trợ chiến thuộc Tiểu đoàn 410.

“Đứng trong đội hình “Tiểu đoàn chủ lực Nam Bộ” nổi tiếng đánh chống càn phá thế bao vây của địch trên các tuyến giao thông thủy-bộ khắp các mặt trận, tôi được trui rèn, thử thách qua chiến đấu, trở thành quân nhân cách mạng. Với nhiệm vụ vừa chiến đấu vừa bảo vệ cơ quan đầu não kháng chiến, gây dựng phong trào du kích chiến tranh, toàn dân đánh giặc, dù các lực lượng ngày ấy còn non trẻ nhưng đã “chia lửa”, góp phần vào thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ”, giọng ông Tư Niên hào sảng, tự hào.

Từ năm 1953, thực dân Pháp triển khai hàng loạt đồn bốt và liên tiếp mở nhiều cuộc càn quét, đánh phá các căn cứ cách mạng của ta. Trước tình hình đó, thực hiện chỉ đạo của Trung ương Đảng và Bộ Tổng Tham mưu, Bộ tư lệnh Phân liên khu miền Tây yêu cầu các tỉnh tích cực phát triển phong trào chiến tranh du kích nhân dân; đơn vị vũ trang đẩy mạnh tiến công kết hợp địch vận, dân vận.

Ông Tư Niên nhớ lại: “Ngày đó, phong trào TOFACO (gọi tắt của tổng phản công) rất sôi nổi. Khắp nơi quần chúng tham gia đấu tranh chính trị, thuyết phục binh lính địch bỏ súng đầu hàng về với cách mạng; còn bộ đội chủ lực phối hợp với địa phương giải phóng vùng kìm kẹp, vùng địch kiểm soát. Ta tấn công trên các địa bàn hiểm yếu khiến địch phải phân tán lực lượng, giảm sức ép cho chiến trường Điện Biên Phủ”.

leftcenterrightdel

 Thiếu tướng Trần Văn Niên (thứ hai, từ trái sang) và các đồng đội, năm 2022. Ảnh: VĂN NGỌC NHUẦN

Cuối năm 1953, Bộ tư lệnh Phân liên khu miền Tây và các tỉnh xây dựng kế hoạch tác chiến theo phương hướng chính là tập trung đánh sâu, đánh mạnh vào vùng địch hậu làm tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch; phá cơ sở kinh tế, hậu cần buộc chúng phải đối phó ngay tại sào huyệt. Đồng thời, đề ra phương án ngăn chặn địch càn quét vùng căn cứ nhưng ta không được phân tán lực lượng. Với vai trò phụ trách nội ô thị xã Cần Thơ cùng công tác binh vận, ông Nguyễn Tấn Phát (còn gọi là Ba Bá), Thị ủy viên Cần Thơ lúc bấy giờ, phát động và lãnh đạo phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân rộng khắp. Nhiều hoạt động biểu tình, tuyên truyền giáo dục để gây khó khăn cho địch diễn ra rộng khắp.

Khi Chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn (ngày 13-3-1954), để “chia lửa” với chiến trường chính, quân, dân miền Tây Nam Bộ tranh thủ tiến công và làm công tác tuyên truyền, phát động quần chúng chống địch càn quét, bắt lính, đôn quân; không cho chúng vơ vét tài sản cung cấp cho chiến trường chính. Ông Tư Niên kể: “Khi lực lượng ta đẩy mạnh hoạt động ngụy vận và luồn sâu trong hậu cứ của địch thì các đơn vị đã liên hệ chặt chẽ với Huyện ủy, UBND huyện Ô Môn và Châu Thành (tỉnh Cần Thơ) móc nối với nội ứng. Ví như anh Lê Phước Biện được ta cài cắm từ năm 1949, đến khi đó giữ chức Đồn phó Đồn Giai Xuân, cùng 3 chiến sĩ nội ứng. Theo hiệp đồng, 4 nội ứng của ta ở vị trí canh gác, Tiểu đoàn 410 của tôi tiến vào tháp canh thì anh Biện sẽ tiêu diệt tên đồn trưởng. Tiếp đó, 3 chiến sĩ ở các vị trí gác kêu gọi lính đầu hàng”.

Kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chỉ riêng các trận đánh “chia lửa” với chiến trường Điện Biên Phủ, quân, dân miền Tây Nam Bộ đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.000 tên địch, tiêu diệt 1 tiểu đoàn, bức rút 1 quận lỵ, san bằng nhiều đồn bốt, mở rộng nhiều vùng giải phóng. Những thắng lợi trên đã cổ vũ quân, dân tiếp tục chiến đấu, đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang rộng khắp, tạo nên sức mạnh tổng hợp để đi đến thắng lợi.

TRUNG KIÊN