Xuân Nương là một trong các nữ tướng tài ba dưới ngọn cờ tụ nghĩa của Hai Bà Trưng và trong phong trào chống Hán đầu những năm 40. Theo thần tích thì Xuân Nương sinh ra tại vùng trung du châu Đại Man (Tuyên Quang ngày nay). Bà là con thứ tám của thủ lĩnh châu Đại Man tên là Hùng Sát. Do mẹ mất sớm nên Xuân Nương được một người bà con nuôi dưỡng. Thần tích chép rằng, cô bé Xuân Nương từ nhỏ đã thích ăn chay và chỉ uống nước mía. Năm 18 tuổi, Xuân Nương trở thành một thiếu nữ xinh đẹp và có năng khiếu cả văn lẫn võ, được nhiều người mến phục.
Năm 34, Tô Định được nhà Hán cử sang làm Thái thú Giao Chỉ. Y là một kẻ gian tham, độc ác. Dưới quyền cai trị của tên Thái thú này, mức độ bóc lột và đè nén bị đẩy lên cùng cực. Không thể chịu nổi sự bạo tàn của các quan lại Hán, nhiều cuộc nổi dậy đã nổ ra và một trong số đó là cuộc nổi dậy do Hùng Thắng, anh trai cả của Xuân Nương và Thi Sách, chồng của Trưng Trắc lãnh đạo. Cuộc nổi dậy bị đàn áp đẫm máu, cả hai vị thủ lĩnh đều bị Tô Định giết hại. Nợ nước, thù nhà chất chứa, Xuân Nương vô cùng căm giận, quyết chiêu tập lực lượng báo thù. Trong bối cảnh quan, quân Tô Định cho người dò la, bắt bớ và hãm hại những người chống lại chúng, Xuân Nương đành phải xuống tóc vờ đi tu, thực chất là cải trang nhằm qua mắt quân giặc để dễ bề đi vận động anh hùng, hào kiệt trong vùng đứng lên nổi dậy đánh giặc Hán.
Sau một thời gian âm thầm chuẩn bị lực lượng, Xuân Nương đã quyết định chọn hương Tuế Phong (nay là Tam Nông, Phú Thọ) làm địa bàn tập kết binh mã để khởi sự. Nghe danh bà, chỉ trong một thời gian ngắn, các anh hùng, hào kiệt và nhân dân, đặc biệt là phụ nữ trong vùng đã kéo về tụ nghĩa rất đông. Họ suy tôn bà là “nữ trung hào kiệt”. Dưới sự chỉ huy của Xuân Nương, hàng trăm chị em hăng say dùi mài, tập luyện võ nghệ, ai ai cũng mong chờ đến ngày khởi sự.
Cùng thời điểm đó tại Mê Linh, chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị cũng đang chiêu tập binh mã để chuẩn bị khởi nghĩa. Biết được thông tin Xuân Nương cũng đang chiêu tập binh mã để chuẩn bị nổi dậy, Trưng Trắc đã cho người sang đón Xuân Nương về cùng hợp sức tụ nghĩa. Hơn 1.000 nghĩa binh đã theo Xuân Nương về với Hai Bà. Tại đây, với tài cao và chí lớn, Xuân Nương được phong làm Thống lĩnh tả quân nữ tốt thị nội và được tham gia bàn bạc các công việc hệ trọng cùng Hai Bà.
Mùa xuân năm 40, cuộc Khởi nghĩa Hai Bà Trưng bùng nổ. Tin tưởng vào tài năng của Xuân Nương, ngày dấy nghĩa, Bà Trưng đã trao quyền cho Xuân Nương chỉ huy nữ tốt tả quân. Nắm binh quyền trong tay, Xuân Nương dũng cảm chỉ huy quân sĩ tiến thẳng đến sào huyệt của Tô Định. Một trận kịch chiến xảy ra, quan, quân Tô Định thua to, bỏ chạy tán loạn. Thái thú Tô Định phải cắt tóc, cạo râu, cải trang để chạy trốn. Khắp nơi trong vùng, các cuộc nổi dậy đồng loạt bùng nổ và giành thắng lợi. Phong trào lan rộng trong toàn dân, nhiều gia đình cả nhà đều tham gia dấy nghĩa, tiêu biểu như: Thanh Hóa có 5 mẹ con bà Lê Thị Hoa; Thăng Long (Hà Nội) có vợ chồng Phương Dung-Đào Kỳ... Chỉ trong một thời gian ngắn, toàn bộ Giao Chỉ được giải phóng. Cả một bộ máy chính quyền đô hộ được xây dựng nhiều chục năm, trải qua mấy triều đại phong kiến rung chuyển và sụp đổ từng mảng lớn.
Cuộc Khởi nghĩa Hai Bà Trưng toàn thắng. Trưng Trắc lên ngôi vua, xưng là Trưng Vương, phong Xuân Nương là Đông cung công chúa Nhập nội trưởng quản quân cơ nội các và trọng thưởng lớn. Tuy nhiên, Xuân Nương xin được trở về quê sống với bà con, quây quần bên lũy tre làng. Được Trưng Vương đồng ý, bà trở về quê trong vòng tay chào đón và trân quý của đông đảo bà con nhân dân. Là một người phụ nữ nhân hậu và có tấm lòng bao dung, ngày trở lại quê nhà, bà đã mang số vàng, lụa được ban thưởng tặng lại cho bà con trong vùng. Trân quý một nữ tướng đức tài vẹn toàn, Trưng Vương đã xe duyên cho Xuân Nương nên nghĩa vợ chồng với Thi Bằng, em trai của Thi Sách. Từ đây, ngoài nghĩa vua tôi còn là tình cảm gia đình.
Tuy nhiên, niềm vui và hạnh phúc đó kéo dài không được bao lâu trước âm mưu thâm độc của nhà Hán. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thắng lợi và Bà Trưng xưng vương đã gây nên cơn địa chấn, làm cho triều đình nhà Hán hết sức tức tối và lo lắng. Mùa hạ năm 42, Hán Quang Vũ Đế phong cho Mã Viện làm Phục ba tướng quân, đồng thời sai thống suất quân sĩ sang tái chiếm nước ta. Đất nước lâm nguy trước họa ngoại xâm, Xuân Nương trở lại quân trường và được Trưng Vương giao sát cánh cùng vợ chồng Đốc lĩnh chỉ huy một đội quân tiên phong nghênh chiến với đạo quân của Mã Viện. Sử cũ chép rằng, lúc bấy giờ, cuộc chiến diễn ra hết sức khốc liệt, Đốc lĩnh hy sinh. Thấy thế, Xuân Nương phi ngựa lao thẳng vào đội hình quân giặc, hai tay vung hai kiếm sáng loáng chém chết nhiều tên giặc. Tuy nhiên, nhìn thấy người phụ nữ dáng vẻ yếu ớt nên quân giặc khép chặt vòng vây hò nhau xông vào hòng bắt sống. Quyết không để rơi vào tay lũ giặc khát máu, Xuân Nương kiên cường chống đỡ. Trước tình thế quân giặc đông, lại hết sức hung hăng, trong khi bản thân đang mang thai và bị thương, Xuân Nương đã quyết định mở đường máu dẫn theo một đội quân rút lui về Nam Cường. Quân giặc hò reo đuổi theo đến nơi, bà lại chỉ huy số quân sĩ đi cùng vừa chiến đấu vừa khôn khéo rút về Hương Nộn. Sau đó, bà đã gieo mình xuống sông tự vẫn.
Ghi nhớ công lao của một nữ tướng anh hùng, ngày nay, tại một số nơi ở Phú Thọ đều có đền thờ bà... Trong đó, đền thờ Xuân Nương ở xã Hương Nha cũ (nay là xã Hiền Quan) đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử-văn hóa cấp quốc gia.
PGS, TS TRẦN NGỌC LONG