Đến thăm Trung tướng Nguyễn Ngọc Thanh tại nhà riêng ở Hà Nội, tôi được ông cho xem tấm ảnh hai vợ chồng chụp chung ngay sau ngày giải phóng TP Đà Nẵng. Bức ảnh in sơn mài trên nền gỗ thông mà ông đã kỳ công nhờ một thợ ảnh ở thủ đô Moscow chế tác vào đầu năm 1990, khi ông đang học tại Học viện Bộ Tổng Tham mưu mang tên Voroshilov (Liên Xô). Để có bức ảnh này, ông và bà Trần Thị Lê đã trải qua những năm tháng chiến tranh gian khổ ở chiến trường Quảng Đà-Quân khu 5.
Trung tướng Nguyễn Ngọc Thanh sinh năm 1944, quê ở xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (nay là xã Hoài Đức, TP Hà Nội). Tháng 4-1962, Nguyễn Ngọc Thanh xung phong nhập ngũ, làm chiến sĩ trinh sát-kế toán thuộc Đại đội 1, Trung đoàn Pháo binh 84, Bộ tư lệnh Pháo binh. Do quá trình rèn luyện, phấn đấu tốt, tháng 5-1964, Tiểu đội trưởng Nguyễn Ngọc Thanh được cấp trên cử đi học Trường Sĩ quan Pháo binh. Sau khi tốt nghiệp vào tháng 6-1966, Thiếu úy Nguyễn Ngọc Thanh được điều động về Trung đoàn Pháo binh 68, Bộ tư lệnh Pháo binh. Một năm sau, Trung đoàn 68 nhận lệnh vào chiến trường B1 (Quân khu 5)...
    |
 |
| Bức ảnh Nguyễn Ngọc Thanh và Trần Thị Lê chụp ở TP Đà Nẵng (tháng 5-1975). Ảnh do gia đình cung cấp |
“Ở chiến trường B1, tôi đã mấy lần được gặp y sĩ Trần Thị Lê-vợ tôi bây giờ. Lần gặp đầu tiên là đầu năm 1972, tại một trạm quân bưu ở khu vực Dốc Gió (Tây Quảng Đà). Khi ấy tôi được nghe một cô gái trẻ, giọng miền Bắc, say sưa hát làn điệu dân ca quan họ Bắc Ninh. Sau này tôi mới biết cô ấy là y sĩ Trần Thị Lê, làm việc ở Ban Tổ chức Đặc khu ủy Quảng Đà, đồng hương với tôi...”, Trung tướng Nguyễn Ngọc Thanh nhớ lại.
Bà Lê ngồi bên cạnh chồng, tiếp lời: “Thật bất ngờ, khoảng gần một tuần sau khi dời Dốc Gió, tôi nhận được một lá thư của anh bộ đội. Trong thư anh “tường trình” như một bản khai lý lịch, mà đến bây giờ nghĩ lại tôi vẫn buồn cười: “Đồng chí Lê thân mến! Tôi tên là Nguyễn Ngọc Thanh, đồng hương Sơn Tây. Tôi vào chiến trường đã 5 năm. Hiện nay, tôi được chuyển về chiến đấu ở Tiểu đoàn 577. Tôi được biết đồng chí là đồng hương nên tôi viết thư hỏi thăm... Tôi có mấy lời căn dặn: Đồng chí hãy cố gắng phấn đấu cho tốt để trở thành người cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, sớm được kết nạp vào Đảng. Khi đi công tác xuống đồng bằng, những chỗ địch hay phục kích, hoặc bắn pháo phải hết sức cảnh giác, cẩn thận”... Năm 1973, trong một lần đi công tác, tôi gặp lại anh Thanh ở địa bàn huyện Đại Lộc. Anh Thanh đi cùng một chiến sĩ liên lạc của đơn vị. Chúng tôi cùng lấy cơm ra ăn trưa. Anh Thanh ngắt lá cây rừng để thay bát, bẻ cành cây làm đũa và ăn cơm cùng với muối đậu phộng (muối lạc). Trước khi chia tay, chúng tôi ghi vội địa chỉ đơn vị cho nhau...
Mãi đến tháng 5-1975, sau giải phóng Đà Nẵng, anh Thanh đi tìm tôi, người con gái đồng hương đã gặp hai năm trước ở chiến trường. Và chúng tôi đã chụp chung bức ảnh này, khi gặp lại nhau ở Đà Nẵng”.
Từ đó, anh bộ đội Nguyễn Ngọc Thanh có nhiều lần gặp gỡ y sĩ Lê và tình yêu của họ thêm thắm hơn. Một năm sau, hai người được cơ quan, đơn vị cho nghỉ phép 10 ngày để tổ chức hôn lễ tại quê nhà vào ngày 3-4-1976. Sau khi cưới 3 ngày, hai vợ chồng cùng đi tàu hỏa vào Đà Nẵng. Bà Lê làm việc tại Trạm đón tiếp cán bộ ở Hội An thuộc Ban Tổ chức Tỉnh ủy Quảng Nam-Đà Nẵng. Ông Thanh là cán bộ thuộc Bộ CHQS tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng. Năm 1977, ông bà sinh con trai Nguyễn Thanh Bình. Hiện nay, anh Bình công tác tại Cục Pháp chế, Bộ Quốc phòng.
Cuối năm 1977, ông Thanh được cấp trên điều động ra miền Bắc học Trường Văn hóa quân đội ở Lạng Sơn. Tháng 8-1978, ông Thanh vào học khóa 1, Học viện Quân sự Cao cấp (nay là Học viện Quốc phòng). Sau khi tốt nghiệp vào tháng 8-1980, ông được giữ lại làm giảng viên Khoa Chỉ huy-Tham mưu của Học viện.
Với nguyện vọng hợp lý hóa gia đình, tháng 2-1979, bà Trần Thị Lê được về công tác tại Khoa Ngoại, Viện Quân y 105, Tổng cục Hậu cần (nay là Bệnh viện Quân y 105, Tổng cục Hậu cần-Kỹ thuật). “Một tháng một lần, khoảng 4 giờ chiều thứ bảy, tôi lại đạp xe gần 50km từ đơn vị về thăm vợ. Hồi ấy kinh tế còn khó khăn nên cứ vào 4 giờ chiều chủ nhật, trước khi đi, vợ tôi thường xếp một hộp muối vừng vào ba lô để tôi mang lên đơn vị ăn thêm. Năm 1981, vợ chồng tôi sinh con gái Nguyễn Lê Hằng. Hiện nay con gái chúng tôi là doanh nhân làm việc ở Hà Nội...”, Trung tướng Nguyễn Ngọc Thanh kể.
    |
 |
Trung tướng, GS, TS Nguyễn Ngọc Thanh và vợ. Ảnh: THÁI GIANG
|
Vượt qua những tháng năm gian khó và nỗ lực phấn đấu, giảng viên Nguyễn Ngọc Thanh được bổ nhiệm Phó tham mưu trưởng Quân khu 1; rồi được cử đi đào tạo tại Học viện Bộ Tổng Tham mưu mang tên Voroshilov (Liên Xô) vào tháng 8-1989. Về nước từ tháng 9-1990, ông tiếp tục công tác tại Học viện Quân sự Cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng). Ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ năm 1998. Trải qua nhiều cương vị công tác, năm 1996, Đại tá Nguyễn Ngọc Thanh được bổ nhiệm Phó giám đốc Học viện Quốc phòng; được thăng quân hàm Thiếu tướng năm 1998, Trung tướng năm 2007 và phong hàm Phó giáo sư năm 2002, Giáo sư năm 2005. Năm 2008, Trung tướng Nguyễn Ngọc Thanh nghỉ hưu.
THÁI KIÊN