Dành trọn thanh xuân cho thành phố thân yêu

Chúng tôi tìm đến căn nhà nhỏ của chiến sĩ biệt động Phan Thị Thu (bí danh Tư Hồng, sinh năm 1943) và Phan Thị Hồng (bí danh Hồng Quang, sinh năm 1950). Không dễ để có được cuộc gặp này bởi từ trước đến nay, hai bà vốn sống kín tiếng, ít khi kể về những năm tháng chiến đấu của mình. Vừa gặp chúng tôi, hai bà đã hỏi ngay về kết quả tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng (trước năm 1975 là nghĩa trang Đô Thành). Nơi đây gắn với một nỗi niềm chưa bao giờ nguôi trong hai nữ chiến sĩ biệt động.

Câu chuyện cứ thế từ từ mở ra. Gần như mọi ký ức của bà Thu và bà Hồng đều bắt đầu từ người cha-liệt sĩ Phan Văn Bảy (bí danh Phan Văn Sự, còn gọi là Bảy thợ may) hy sinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Ông là người đã gieo vào tâm hồn các con tình yêu nước, lòng trung thành với cách mạng và ý chí không khuất phục trước mọi gian nan, thử thách. Ông Phan Văn Bảy là người gốc Bắc, vào Sài Gòn hoạt động cách mạng từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp theo sự điều động của tổ chức. Ông từng 3 lần bị địch bắt giam, riêng lần cuối bị đày ra Côn Đảo suốt 7 năm. Trong gia đình có 7 người con thì cả 7 người đều nối bước cha tham gia lực lượng biệt động.

Nơi hậu phương, người vợ cần mẫn với nghề may, một mình quán xuyến gia đình, nuôi các con trưởng thành giữa những năm tháng chiến tranh ác liệt. Những hy sinh thầm lặng ấy sau này được Đảng, Nhà nước ghi nhận bằng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Bà Thu và bà Hồng đều là những chiến sĩ biệt động bị địch bắt, giam cầm. Dù ở nơi ngục tù tăm tối nhưng tâm trí của hai chị em luôn hướng về Sài Gòn và tin tưởng vào ngày chiến thắng. Rồi ngày 30-4-1975 lịch sử cũng đến, bọn cai ngục hoảng loạn bỏ chạy, những người tù cách mạng tự phá cửa buồng giam, vượt qua hàng rào của nhà tù để trở về với tự do. Đến nay, bà Thu vẫn nhớ như in cảm xúc của ngày hôm ấy: “Tôi chỉ nghĩ thành phố đã được giải phóng, mình đã được tự do, được trở về Sài Gòn. Dù trên đường về có bị trúng đạn lạc mà chết cũng mãn nguyện”. Sau bao năm bị tù đày, chia cắt, họ cuối cùng cũng trở về với gia đình, với thành phố mà mình đã dành trọn tuổi thanh xuân để chiến đấu và gìn giữ. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, hai chị em vẫn nhớ lời căn dặn của cha trước ngày lên đường làm cách mạng: “Đã làm cách mạng thì phải chấp nhận cực khổ, tù đày, chết chóc. Điều quan trọng nhất là giữ được khí tiết của mình, đừng làm gì để mất thanh danh gia đình”. Có lẽ chính lời dặn ấy đã trở thành điểm tựa để họ vượt qua những năm tháng khốc liệt nhất của chiến tranh và sống trọn vẹn với lý tưởng mà mình lựa chọn.

Những vai diễn bất đắc dĩ

Cuối năm 1965, bà Thu thoát ly gia đình ra vùng ven đô để học nghiệp vụ trinh sát công khai. Sau khi chính thức trở thành một chiến sĩ biệt động, công việc của bà Thu là tiếp cận các mục tiêu trong nội thành, nắm quy luật hoạt động của đối phương, ghi nhớ địa hình, sơ đồ bố trí rồi báo cáo về tổ chức. Nghe qua tưởng đơn giản nhưng để hoàn thành nhiệm vụ, bà phải sống dưới những thân phận hoàn toàn khác.

Có thời gian, bà được giao đóng vai nữ sinh yêu thầy giáo (là cán bộ tình báo của ta). Những ngày ấy, cô gái trẻ mặc áo dài trắng, ngồi sau chiếc Vespa rong ruổi cùng người tình trên các con đường Sài Gòn. Họ đi ăn phở, gặp gỡ bạn bè, tiếp xúc với giới trí thức đô thị. Phía sau những cuộc gặp gỡ tưởng như rất đời thường ấy lại là nhiệm vụ điều nghiên, thu thập thông tin phục vụ hoạt động của lực lượng biệt động. Sau đó, bà tiếp tục nhận một vai diễn đặc biệt hơn, đó là đóng vai “bồ nhí” của nhà thầu nổi tiếng Năm Lai (sau này là Anh hùng LLVT nhân dân Trần Văn Lai), người thường xuyên lui tới những nơi có nhiều sĩ quan và quan chức chế độ cũ. Đây cũng là khoảng thời gian bà chịu nhiều áp lực nhất. Một cô gái ngoài đôi mươi phải chấp nhận sống trong những vai diễn dễ bị hiểu lầm nhưng không được phép giải thích với bất kỳ ai. “Nhiều lần đi công tác về, tôi chỉ biết khóc. Chẳng thà ra chiến trường trực tiếp còn đỡ hơn. Làm kiểu này tai tiếng lắm”, bà Thu nhớ lại. Mỗi lần như vậy, bà lại nghĩ tới lời cha dặn: “Làm cách mạng nếu phải có một ngàn người chồng cũng phải chấp nhận”. Câu nói tưởng như khắc nghiệt ấy lại trở thành điểm tựa tinh thần để bà vượt qua mọi điều tiếng, tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ.

Chúng tôi tìm gặp bà Đặng Thị Tuyết Mai, vợ ông Năm Lai. Nhắc lại những năm tháng hoạt động bí mật của lực lượng biệt động, bà Mai xúc động nói: “Lúc đầu thấy chồng thường xuyên xuất hiện bên một nữ sinh trẻ tuổi, tôi không khỏi chạnh lòng. Nhưng khi hiểu đó là vai diễn phục vụ nhiệm vụ cách mạng, tôi càng cảm phục sự hy sinh thầm lặng của các chị em. Họ đã chấp nhận gian khổ, hiểm nguy và cả những điều tiếng để hoàn thành nhiệm vụ. Vì thế, tôi luôn xem các chị như người thân trong gia đình”.

leftcenterrightdel

Ba chị em ruột từng là chiến sĩ biệt động: Phan Thị Thu (đứng bên trái), Phan Thị Hồng (ngồi bên phải), Phan Thị Hạnh (đứng bên phải) và bà Đặng Thị Tuyết Mai (ngồi bên trái) cùng ôn lại kỷ niệm trong những năm tháng chiến tranh. Ảnh do nhân vật cung cấp 

Vượt lên nỗi đau tột cùng

Năm 1970, bà Phan Thị Thu bị địch bắt. Những ngày sau đó trở thành chuỗi ký ức đau đớn mà đến nay, bà vẫn nhớ rõ từng chi tiết. Bà nằm trong “sổ bìa đen”, thuộc diện gia đình Việt cộng nên bị địch tập trung khai thác. Để buộc bà khai báo, chúng sử dụng đủ mọi thủ đoạn tra tấn dã man: Đánh đập, chích điện vào ngực, dùng mảnh sành đâm vào vùng kín, dùng kim đâm vào 10 đầu ngón tay rồi để bà ngồi giữa gió nhằm kéo dài cảm giác đau buốt. Thế nhưng suốt nhiều tuần lễ bị tra khảo liên tục, nữ chiến sĩ biệt động Tư Hồng vẫn giữ trọn khí tiết, không khai báo nửa lời. Không khuất phục được ý chí ấy, địch đày bà ra Côn Đảo. 5 năm ở “địa ngục trần gian” là 5 năm của những bữa cơm lẫn cát và giòi bọ, những ngày dài trong xà lim tối tăm, ngột ngạt. Chồng bà khi đó cũng là chiến sĩ cách mạng bị địch bắt giam tại Côn Đảo. Ở trong tù, bà vẫn bằng mọi cách liên lạc với các đồng chí và kiên cường đấu tranh với kẻ thù.

Nếu bà Thu mang theo vết thương từ những năm tháng tù đày thì người em gái Phan Thị Hồng lại mất đi một phần cơ thể. Bà Hồng thoát ly gia đình năm 15 tuổi (năm 1965) và được huấn luyện trở thành chiến sĩ biệt động, làm nhiệm vụ quân báo kỹ thuật. Khoảng cuối năm 1968, khi lực lượng biệt động Sài Gòn-Gia Định bị tổn thất nặng nề, bà được điều động làm nhiệm vụ ở vùng biên giới Tây Ninh. Trong một trận càn của địch, bà bị thương nặng và rơi vào tay Mỹ-ngụy. Trước khi bị bắt, bà đã kịp giấu tài liệu, bản đồ vào hầm bí mật. Bị đưa về căn cứ địch, liên tục bị thẩm vấn, ép cung và bắt chỉ điểm căn cứ cách mạng nhưng bà chỉ kiên quyết trả lời: “Tôi là dân thường đi tải gạo, không biết gì hết”.

Không khuất phục được ý chí ấy, địch quyết định cưa chân bà. Nhưng sự đau đớn đó không làm người nữ chiến sĩ gục ngã. Sau khi được trả tự do, bà tiếp tục tham gia cách mạng. Chống cây nạng gỗ, sống giữa khu gia binh của ngụy quân Sài Gòn, bà nhận giặt ủi quần áo để che mắt địch trong khi vẫn âm thầm làm giao liên, chuyển tin tức cho tổ chức. Sau đó, bà tiếp tục bị địch bắt, tù đày cho đến ngày giải phóng.

Là những thương binh nặng, hai bà luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách; đồng thời bố trí công tác trong lực lượng Quân đội và Công an cho đến ngày nghỉ hưu. Ông Nguyễn Quốc Độ, Phó chủ nhiệm Câu lạc bộ truyền thống kháng chiến Khối vũ trang-biệt động Quân khu Sài Gòn-Gia Định chia sẻ: “Thành phố mang tên Bác đang vươn mình mạnh mẽ với những công trình, tuyến đường mới và nhịp sống sôi động của một đô thị hiện đại. Trong dòng chảy ấy vẫn có những ký ức không bao giờ cũ. Đó là ký ức về những người cha, người mẹ, những chàng trai, cô gái biệt động đã gửi lại tuổi xuân giữa lòng Sài Gòn để đổi lấy hòa bình hôm nay. Và câu chuyện của chị em chiến sĩ biệt động Phan Thị Thu, Phan Thị Hồng chính là một lát cắt xúc động về thế hệ thanh niên như thế!”.

LƯƠNG ANH