Ba tôi sinh ngày 10-3-1919, tại thôn Đại Hòa, xã Triệu Bình, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ông đã trải qua các cương vị từ Huyện đội trưởng Huyện đội Triệu Phong, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Quảng Trị, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Quảng Bình, rồi Trưởng phòng Động viên dân quân Quân khu 4, Phó tham mưu trưởng Quân khu Trị Thiên. Gia đình tôi nhận được giấy báo tử ba vào đầu năm 1970. Theo giấy báo tử, ba hy sinh tại Mặt trận phía Nam vào mồng 3 Tết Mậu Thân 1968. Gia đình vẫn làm giỗ cho ba theo ngày này hằng năm. Mãi cho đến khi tìm được mộ và biết chính xác ngày ba tôi hy sinh, gia đình mới đổi lại ngày giỗ. Và chuyện đi tìm mộ ba đối với gia đình tôi là một câu chuyện dài đầy xúc động...
    |
 |
| Lễ truy điệu liệt sĩ Nguyễn Hữu Thọ tại Mặt trận Trị Thiên Huế, năm 1968. |
Sau ngày giải phóng miền Nam năm 1975, gia đình tôi đã đi tìm mộ ba mà không thể tìm được. Theo thư của các chú ở Quân khu Trị Thiên gửi cho mẹ tôi thì khi ba hy sinh, thi hài được an táng tại nghĩa địa chợ Thông (Hương Trà, Thừa Thiên Huế). Nhưng khi chú và cô tôi vào tìm thì ở đó có hơn 40 ngôi mộ đều là của bộ đội ta hy sinh trong Mậu Thân 1968 và không có tên trên bia.
Lần khác, gia đình tôi lại nhận được thông tin từ chú Toán (hàng xóm cũ) về việc một người bán nón ở chợ Đông Ba (TP Huế) có bốc một ngôi mộ là bạn của chồng, người Quảng Trị, có 4 con gái. Gia đình tôi tức tốc vào Huế tìm gặp thì được biết, chồng của bác tên Tráng, hy sinh đợt Tết Mậu Thân 1968. Khi hy sinh có người đồng đội quê ở Quảng Trị cũng được chôn bên cạnh. Năm 1976, khi bốc mộ cho chồng, không đành để bạn của chồng nằm lẻ loi, bác đã xin phép cùng chuyển về an táng cạnh mộ bác trai ở khu mộ gia đình tại đồi Từ Hiếu. Bác không biết tên họ của người ấy, nghe đâu là phóng viên mặt trận. Nghe thông tin ấy, mẹ tôi và tôi đều nghĩ chắc không phải mộ ba, vì trong thư của đồng đội ba tôi gửi về có ghi địa chỉ chôn cất, chỉ là không biết mộ nào nên chúng tôi không vào nhận mộ ở khu mộ gia đình bác Tráng nữa.
Thế rồi cuộc sống khó khăn cùng với những thông tin về ba cứ mù mờ như vậy nên chúng tôi đành gác lại việc tìm kiếm. Đến năm 1992, một cơ duyên khiến hy vọng tìm thấy phần mộ của ba được nhen nhóm trở lại. Em gái thứ hai của tôi khi ấy đang học ở Bệnh viện Đông y Quân đội (nay là Viện Y học cổ truyền Quân đội), gặp một chú đồng hương Quảng Trị tên là Hoàng Kim Diễn ở Hội Cựu chiến binh tỉnh ra điều trị, chú có gợi ý viết thư gửi cho Hội Cựu chiến binh tỉnh Quảng Trị nhờ giúp đỡ, thế nào cũng có người biết về ba... Em tôi thay mặt gia đình viết thư gửi đi với niềm hy vọng mong manh sẽ tìm được mộ ba. Chỉ một thời gian sau, gia đình tôi nhận được thư của chú Hoàng Kim Diễn báo đã có thông tin về mộ ba. Mẹ con tôi tức tốc vào Quảng Trị. Qua các chú, tôi được biết, một đồng đội của ba là chú Nguyễn Xuân Lưu ở Huế đã báo tin cho Hội Cựu chiến binh tỉnh.
    |
 |
Gia đình đồng chí Nguyễn Hữu Thọ, năm 1957. Ảnh do tác giả cung cấp
|
Vậy là gia đình tôi lại đi Huế. Tại đây, chú Nguyễn Xuân Lưu kể đã nghe đọc bức thư của em tôi trong một lần sinh hoạt hội cựu chiến binh. Sau đó, trong lần đi họp cán bộ hưu trí của TP Huế, chú gặp chú Nguyễn Ngọc Huế là đồng đội của ba tôi. Chú Huế nói với chú Lưu: “Anh có biết vợ con anh Thọ ở đâu không để báo cho chị và các cháu vào tìm mộ? Mộ anh Thọ đang ở trong khu mộ gia đình chị Tráng, trên đồi Từ Hiếu. Hôm rồi, chị có mời tôi đến nhà nhân ngày giỗ anh Tráng. Chị bảo mộ đồng đội anh Tráng vẫn ở đó, chưa có gia đình vào nhận. Không biết anh ấy có gia đình không, nếu có thì ở đâu để nhắn cho gia đình biết”. Sực nhớ tới bức thư của em tôi hỏi tin tức về mộ ba nên chú Nguyễn Xuân Lưu đã viết thư kết nối.
Ngay tối hôm ấy, chú Lưu dẫn mẹ con tôi lên nhà chú Nguyễn Ngọc Huế, là người đã chôn cất ba. Thật cảm động khi được nghe chú kể lại phút giây ba tôi bị thương rồi hy sinh và chú đã chôn cất ba lúc đó. Chú bảo, sau giải phóng trở về Huế, chú vội đi tìm lại mộ ba tôi và bác Tôn Thất Tráng, sợ hồi đó chôn vội vàng nhỡ mất dấu. Sau đó, chú đến nhà báo cho vợ bác Tráng để bốc mộ. Chờ một năm không thấy thân nhân vào tìm nên gia đình bác Tráng quyết định bốc mộ ba tôi về đồi Từ Hiếu. Trước đó, chú Huế có gửi sơ đồ mộ chí của ba tôi cho Phòng Chính sách của Quân khu nên chú nghĩ rằng gia đình tôi đã có thông tin. Có lẽ bởi sau giải phóng, Quân khu Trị Thiên giải thể, mỗi người về một đơn vị nên thất lạc.
Hôm sau, chú Huế dẫn gia đình tôi đến xóm Guốc, thôn An Ninh Hạ, xã Hương Long, TP Huế, nơi ba tôi hy sinh. Tại đây, chúng tôi được nghe kể tường tận về trường hợp hy sinh của ba: Tết Mậu Thân 1968, Quân giải phóng tổng tiến công vào Huế. Bộ chỉ huy tiền phương đóng trong vườn nhà bác Mường ở thôn An Ninh Hạ. Đến chiều 16 tháng Giêng, địch cho máy bay và quân phản kích rất mạnh. Chú Huế kể: “Chú và ba cháu ngồi nói chuyện trong hầm của ba cháu một lúc. Khi chú vừa về hầm của mình thì máy bay ném bom dữ dội. Lúc đó khoảng 5 giờ chiều, chú nghe tiếng bom nổ bên hầm của ba cháu. Vừa ngớt một đợt bom, chú chạy sang thì ba cháu và bác Tráng đã hy sinh. Bác Tráng bị thương vào đùi, ba cháu bị vào đầu, mặt, cổ...”.
Đồng đội đã chôn cất ba tôi và bác Tráng ở ngay cồn mộ của làng, lấy bụi tre và mương nước làm dấu, không dám chôn thành nấm mộ mà chôn bằng mặt đất rồi ngụy trang lại. Ba tôi được bọc trong tấm ni lông có mũ bộ đội che mặt. Bác Tráng cao to hơn ba tôi, mặc bộ đồ bà ba đen nằm bên cạnh. Ở giữa ngăn cách bằng một tấm gỗ.
Ngay tối đó, bộ chỉ huy tiền phương chuyển về thôn An Ninh Thượng. Những cán bộ, chiến sĩ hy sinh sau này mới được chôn ở nghĩa địa chợ Thông, chính là địa chỉ mà đồng đội của ba đã ghi trong thư gửi mẹ tôi. Từ đây, gia đình tôi cũng xác định được ngày ba hy sinh là 13-2-1968.
Thì ra tin mà sau ngày giải phóng chú Toán nhắn cho mẹ tôi là đúng. Nhưng vì thông tin bị sai lệch nên chúng tôi đã không thể nhận mộ ba. Và vợ bác Tráng đã thờ cúng ba tôi suốt chừng ấy năm, trong khi mấy mẹ con tôi cứ loay hoay đi tìm mộ ba...
Chúng tôi đã có cuộc gặp mặt thật cảm động tại nhà bác Tráng. Sau đó, nhờ sự giúp đỡ của các ban, ngành chức năng cùng các chú trong Hội Cựu chiến binh tỉnh Thừa Thiên Huế, Hội Cựu chiến binh tỉnh Quảng Trị và đồng đội của ba, đặc biệt là chú Dương Bá Nuôi, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Thừa Thiên Huế, hài cốt của ba tôi đã được đưa về an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Đường 9 ngày 26-8-1992.
Giờ đây, mỗi lần vào thăm mộ ba, đứng giữa nghĩa trang tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, lòng tôi lại dâng lên những cảm xúc khó tả. Bâng khuâng, bồi hồi, xúc động đến trào nước mắt. Tôi luôn nghĩ và thầm hứa với lòng mình phải sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh của các thế hệ cha anh.
PGS, TS NGUYỄN THỊ PHƯỢNG (Nguyên cán bộ Trường Đại học Y Hà Nội)