Ban đầu, tôi được biên chế về đội văn nghệ (còn gọi là đội tuyên văn) của Binh trạm, chuẩn bị ra Hà Nội tập huấn xây dựng chương trình biểu diễn do Cục Vận tải quân sự (nay là Cục Xe máy-Vận tải, Tổng cục Hậu cần-Kỹ thuật) tổ chức, nhưng chưa kịp lên đường thì có quyết định chia tách binh trạm, thành lập một binh trạm mới trên cơ sở nòng cốt là Binh trạm 11 chúng tôi.
Binh trạm mới là Binh trạm 13 lên tuyến trước làm nhiệm vụ trên địa bàn nước bạn Lào. Bộ phận còn lại (trong đó có anh Xuân Thông) vẫn lấy phiên hiệu là Binh trạm 11, hậu cứ ở Mường Xén, bên này biên giới. Anh Trung Nhân và chúng tôi được đưa về Binh trạm 13, đi sâu vào nước bạn Lào gần 200km, mờ mịt đạn bom. Anh vẫn là Trợ lý tuyên truyền, còn tôi được giao nhiệm vụ làm thơ, diễn kịch, viết kịch cho đội tuyên văn biểu diễn.
    |
 |
| Tác giả (bên trái) gặp lại đồng đội cũ tại Cần Thơ, năm 2022. Ảnh: THANH TÚ |
So với chúng tôi, anh Trung Nhân không những hơn về tuổi đời, tuổi quân, cấp bậc mà còn hơn về uy thế, danh tiếng. Anh là con một, sinh ra trong một gia đình nền nếp, gia giáo, rất khá giả ở đất cảng. Bố anh có một ngôi nhà thuộc loại cổ nhất của Hải Phòng bấy giờ. Anh nhập ngũ năm 1962 (trong khi năm 1969, chúng tôi mới lên đường). Anh từng là một lái xe dạn dày của Đại đội 51, thuộc lòng từng cung đường, từng trọng điểm, từng vách núi của những tuyến đường sang nước bạn Lào. Anh còn là người duy nhất ở Binh trạm chúng tôi được gọi là nhà văn vì có tác phẩm in ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Các thủ trưởng Binh trạm nâng niu, quý trọng anh lắm, luôn sợ một ngày “nhỡ” Tổng cục hay Trung ương điều anh ra Hà Nội thì “nguy”!
Anh Trung Nhân thường tâm sự về đời văn-chiến sĩ của mình: “Ngày ấy, mình vẫn còn lái xe ở Đại đội 51, rồi vì học hết phổ thông (ngày ấy, lính tốt nghiệp phổ thông còn hiếm) nên được chuyển về làm thống kê ở đơn vị. Bởi vừa sẵn giấy bút, cũng lại yêu thích thơ văn nên thi thoảng, mình viết tin, bài gửi về bản tin Tổng cục Hậu cần hay Báo Quân đội nhân dân. Thế mà lại nên chuyện. Năm 1968, mình bỗng được đơn vị cử ra Hà Nội dự lớp viết văn đầu tiên của Tổng cục Hậu cần. Thầy dạy có các ông: Đỗ Gia Hựu, Vũ Sắc, Đại Đồng của Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Nhiều cây viết của Tổng cục Hậu cần ngày ấy như: Trần Nhương, Phạm Thị Thanh Thủy, Trần Duy Mạnh, Xuân Mai... cũng về dự trại. Sau này, từ những hạt nhân của các đơn vị, họ đều trở thành những nhà văn, nhà báo chuyên nghiệp, tên tuổi.
Sau trại ấy, anh Phạm Trung Nhân có truyện ngắn đầu tiên là “Chuyến hàng tới đích” được giới thiệu ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Cũng từ đây, Binh trạm 11 rút anh về cơ quan tuyên huấn, giao nhiệm vụ chuyên xuống các đơn vị viết tin, bài phục vụ bản tin của Binh trạm và cung cấp cho các cơ quan báo chí Trung ương... Ở Binh trạm, anh Nhân được mọi người yêu quý gọi là nhà văn, còn trên Tổng cục Hậu cần, anh được xếp vào lực lượng viết của ngành vận tải (Cục Vận tải quân sự) cùng các anh Phạm Tiến Duật, Trần Nhương, chị Phạm Thị Thanh Thủy. Lực lượng này cũng được coi trọng, sánh với lực lượng viết của các quân, binh chủng khác...
Sau đợt tập huấn từ Hà Nội trở về Binh trạm, trong khi đội tuyên văn mang kịch của tôi đi biểu diễn ở các đơn vị thì tác giả của nó lại nhận một công việc mới: Tham gia làm tờ tin “Đường phía trước” của Binh trạm do anh Phạm Trung Nhân phụ trách. Tờ tin này được làm nên dưới những tán cây săng lẻ, nằm kề bên đường vào mặt trận, in bằng đá li-tô. Anh Trung Nhân vừa là người duyệt, cũng là người tham gia viết bài. Lại sẵn nhiều “hoa tay”, anh hướng dẫn một chiến sĩ công binh vừa được rút về là Ngô Quốc Lập (sau này là Giám đốc Bảo tàng Tân Trào-ATK (Khu di tích lịch sử Tân Trào tại tỉnh Tuyên Quang) viết chữ ngược lên đá, rồi lăn mực, phơi khô. Mỗi chiều khi báo in xong, 3 anh em chúng tôi lại cõng báo ra ven đường phát cho các lái xe, các chiến sĩ công binh, pháo binh... đang chiến đấu ngoài mặt đường. Hàng trăm số báo như thế đến với người chiến sĩ, làm bộ đội nức lòng, nhất là với một binh trạm xa xôi đóng quân ở mãi miền Tây Trường Sơn như Binh trạm 13. Những bài thơ, ký sự của tôi nở rộ trong những ngày tháng chiến tranh khói lửa ấy cũng từ tờ báo binh trạm này.
Trong sự tôi luyện của chiến trường và tấm lòng ấm áp, tận tình giúp đỡ của các anh, người lính trẻ là tôi không ngừng trưởng thành, mang nhiều hoài bão về văn chương. Ngay từ ngày ấy, tôi mong ước sẽ viết một bộ tiểu thuyết về cuộc chiến đấu anh dũng của cán bộ, chiến sĩ Binh trạm 13 và tiểu thuyết này tôi thầm nghĩ, dù mình viết được 200 hay 300 trang thì cũng chỉ đặt một cái tên thật giản dị nhưng hàm súc là “Binh trạm”, với lời đề tựa: “Kính tặng Binh trạm 13 thân yêu”...
Thế rồi năm 1971, từ mặt trận Lào, tôi được gọi về dự một trại viết Quân đội do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân và Tổng cục Hậu cần tổ chức tại Công trường 800. Năm ấy, tôi là binh nhất 19 tuổi, lần đầu tiên được tham gia một trại viết Quân đội, cũng là lần đầu tiên được gặp nhà văn Đỗ Gia Hựu với gương mặt đôn hậu, vai đeo quân hàm Đại úy, tay xách chiếc cặp may bằng vải bạt, ông cùng Trung úy Vũ Sắc thay mặt Nhà xuất bản đến hướng dẫn cho trại viết.
Sau những giờ lên lớp về lý thuyết, các ông chia nhau mỗi người kèm mấy học viên sáng tác. Tôi được thầy Đỗ Gia Hựu trực tiếp hướng dẫn. Điều thú vị là ngay từ buổi tiếp xúc đầu tiên, ông đã khiến tôi cảm thấy thân thiết như cha con, chú cháu trong một gia đình, chẳng chuyện gì về gia đình, hoàn cảnh và đời sống chiến sĩ của tôi mà ông không quan tâm. Và cũng chính từ những tâm sự này, tôi đã hình thành nên một đề cương văn học để sáng tác trong trại viết. Đó là đề cương tiểu thuyết “Những tầng cây săng lẻ”. Khi nộp đề cương, tôi thấy ông chỉ tủm tỉm: “Ừ, cứ viết đi, nhưng có lẽ đây chỉ là một truyện ngắn”.
    |
 |
Bìa cuốn “Binh trạm phía tây” của nhà văn Châu La Việt.
|
Ngay sau buổi ấy, tôi chong đèn hăng say viết hết đêm này qua đêm khác. Nhà văn Đỗ Gia Hựu quả là một người thầy già dặn, một biên tập viên cừ khôi. Bởi đúng như lời ông nói, mặc dù đề cương ban đầu tôi mong muốn hoàn thành cuốn tiểu thuyết, nhưng chỉ viết được 30 trang thì không tài nào viết thêm được nữa. Ở trại viết năm ấy, truyện ngắn “Những tầng cây săng lẻ” của tôi, với sự kèm cặp của thầy Đỗ Gia Hựu, đã được giải thưởng của trại viết. Và qua sự giới thiệu đầy uy tín của ông, truyện ngắn này được in trang trọng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Đó là hạnh phúc lớn với một binh nhất mới cầm bút như tôi. Năm 1980, trong điều kiện giấy in rất khó khăn, tôi lại được ông ưu ái in cho tập kịch “Những bạn trẻ của tôi” ở Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Trong thâm tâm tôi nghĩ, có lẽ vì mình là chiến sĩ trẻ ở đơn vị chiến đấu, những trang viết còn nóng bỏng hơi thở mặt trận nên mới được ưu tiên như thế. Nhưng đó cũng chính là động lực để tôi tự tin đến với công việc văn chương.
Tôi đã từng bước trưởng thành như thế. Dưới sự dìu dắt của các bậc đàn anh và những năm tháng lớn lên từ chiến hào, trận địa trên chiến trường chống đế quốc Mỹ, từ một người lính trực tiếp cầm súng, tôi trở thành một nhà văn. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn say sưa viết về đề tài Bộ đội Cụ Hồ cao đẹp của chúng ta!
Nhà văn CHÂU LA VIỆT