Nếu con người ta có “số” thì anh Trung có số vất vả, đủ điều vất vả. Từ dáng người cao lòng khòng, gầy đét, da đen sạm, khuôn mặt khắc khổ, già nua, dáng đi cứ như chúi về phía trước. Đã thế lại vừa đi vừa nung nấu về một cái gì đó xa xôi lắm, thỉnh thoảng lại lẩm bẩm như một người nông dân vừa ra chợ bán “hố” mớ khoai, cân lạc... Năm 2008, cùng anh sang Campuchia, tôi thấy anh giao tiếp bình thường như ở Việt Nam. Và thật lạ, từ phong thái, cái nhìn, nhất là cái đầu húi cao... chẳng khác gì một nông dân Khmer chính hiệu. Cả một đời lam lũ, thật thà trong cả ý nghĩ, lúc nào cũng như ngơ ngác trước mọi lẽ thăng trầm... thế mà ít khi gặp may. Anh mất năm 2021, trong đại dịch Covid-19, mang theo những ý tưởng sáng tạo còn đang ấp ủ.

Hồi còn công tác ở cơ quan, giỏi tiếng Khmer nhất là nhà văn lão thành, Thiếu tướng Nguyễn Chí Trung, sau là Nguyễn Quốc Trung, tôi tự nhận vào hàng thứ ba, nghe, nói sơ sơ. Thời Thiếu tướng Nguyễn Chí Trung còn sống, từ cơ quan đại diện phía Nam ra Hà Nội, đến số 4 Lý Nam Đế, anh Nguyễn Quốc Trung thường đến ngay chào và hỏi bác Nguyễn Chí Trung về tư liệu. Bao giờ hai người cũng gọi tôi. Nghe hai “người Miên” nói chuyện, tôi hiểu nội dung, nhưng ít khi tham gia, vì nghèo vốn từ. Tôi có hai năm bên nước bạn trong vai trò người lính quân báo. Sau này gặp anh Trung, kể ra, mới biết anh và tôi từng cùng đơn vị, tất nhiên, không trùng thời gian. Từng chịu cảnh 4, 5 tháng mùa khô chắt chiu từng giọt nước uống, từ đó người anh lúc nào cũng có cảm giác háo nước, nên rất thích tắm. Chỉ quen việc viết văn, anh dùng tiền lương giúp vợ con, cháu chắt chi tiêu học hành, còn mình thì mua sách và đi thực tế. Không thuốc lá, không bia rượu, không la cà, thường chỉ mặc quân phục, thậm chí đi đám cưới cũng quân phục...

leftcenterrightdel

Nhà văn Nguyễn Quốc Trung (ngồi thứ hai, từ trái sang) cùng đồng đội tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Ảnh: NGUYÊN THANH

Nhờ đầy ắp vốn sống đời lính, có năng khiếu, được Quân đội cho đi học khóa 3, Trường Viết văn Nguyễn Du (1986-1989), biết sâu thêm về lý thuyết văn chương, nghệ thuật mà trở thành nhà văn tên tuổi. Từng trực tiếp cầm súng, trực tiếp chứng kiến tội ác diệt chủng man rợ của bè lũ Pol Pot, nhiều hình ảnh, sự kiện ăn sâu vào tâm trí, ám ảnh vào giấc ngủ, vào phong thái thường ngày của anh. Cái lần hai anh em trở lại chiến trường xưa, đi sâu vào vườn chôm chôm, anh lộ rõ vẻ bồn chồn, bỗng thoáng rùng mình, anh ngồi thụp xuống, nhanh như cắt, lẩn vào bụi. Hoảng hồn, tôi chưa kịp định thần, anh đã chui ra, như không có chuyện gì xảy ra. Anh nói không chỉ hôm nay, mà nhiều lần, khi sang nước bạn, như một vô thức, giật mình, lặp lại hành động hồi đánh Pol Pot...

Anh đã quá nhạy cảm. Cái nhạy cảm cần có ở nhà văn nhưng thiệt thòi cho anh ngoài đời thường. Sở hữu một gia tài văn chương đáng nể, sự trải nghiệm và cái “tạng” của anh cũng rõ ra cái “nghiệp” văn xuôi. Về tiểu thuyết, có: “Biên giới”, “Bên rừng thốt nốt”, “Người đàn bà khóc mướn”, “Thành phố độc thân”, “Đất không đổi màu”, “Người trong cõi người”, “Dòng sông bên chùa”. Về truyện ngắn, có các tập: “Người đàn bà hồn nhiên”, “Đêm trừ tịch”, “Trong tiết thanh minh”, “Người đến từ nước Mỹ”, “Cô gái tính nhảy cầu Rạch Miễu”. Nhà văn Nguyễn Quốc Trung đã được nhận các giải thưởng: Giải nhất truyện ngắn Báo Sài Gòn Giải Phóng (năm 1989); Giải thưởng văn học sông Mê Công lần thứ nhất (năm 2007); Giải thưởng văn học, nghệ thuật, báo chí 5 năm (2004-2009) của Bộ Quốc phòng; được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật đợt V năm 2022...

Đặc điểm các sáng tác văn xuôi của anh là giàu có về tư liệu, gần với đời thực, dồn nén cảm xúc, đậm đà tính nhân văn. Anh kể, khi bộ đội ta vừa giải phóng, anh tận mắt chứng kiến cảnh ngổn ngang xác người dân vô tội, cùng rất nhiều đầu lâu ở Nhà tù Tuol Sleng. Nghĩ lại, đến nay vẫn còn rùng mình... Anh từng tham gia hỏi cung một tù binh Pol Pot mới chỉ 12 tuổi... Cũng từng tận tay mời cụ ông Khmer đang lúc đói lả suất cơm lính của bộ đội tình nguyện. Anh nói tiếng Việt pha lẫn tiếng Khmer, thỉnh thoảng minh họa bằng hành động miêu tả cảnh giết người của bọn phản động và hành động, lời nói của người dân cảm ơn bộ đội Việt Nam... Anh cho tôi xem nhật ký anh viết về đơn vị mình đưa bà con từ rừng về phum, sóc cũ, dựng lại nhà cửa, để lại ít lương thực, đồ dùng sinh hoạt, rồi lại đến nơi khác, cùng nhiệm vụ ấy... Những chi tiết này, anh đều đã đưa vào văn xuôi.

Từ cái nhìn của nền văn hóa khác, căm thù sâu sắc nạn diệt chủng, sâu nặng lòng cảm thương với đồng bào Khmer gặp tai họa... tạo cho trang viết của anh trung thực, mới mẻ, lạ lẫm. Với quan niệm: “Người lính viết văn có vốn sống lớn nhất là cuộc chiến tranh đã trải qua. Những người tôi từng được sống bên họ, đã hy sinh nay vẫn còn ám ảnh tôi. Tôi vẫn viết về họ” (“Tổng tập Nhà văn Quân đội”-2023, Nhà xuất bản Văn học, tập 5, tr.406). Hình tượng nổi bật trong văn xuôi Nguyễn Quốc Trung là người lính tình nguyện đã vượt qua vô vàn gian nan, đối mặt và chiến thắng sự tàn bạo của bọn diệt chủng để hoàn thành sứ mệnh giải phóng nhân dân Campuchia. Đúng như lời của nhân vật Tiếu trong “Đất không đổi màu”: “Không phải vàng thiệt thì chịu thế nào được lửa”. Trong những người lính ấy có cả các tướng lĩnh chỉ huy, như Lê Trọng Tấn, Hoàng Cầm, Bùi Cát Vũ (“Đất không đổi màu”), đến chiến sĩ như Nguyễn, Thái (“Biên giới”), Dần, Quyền, Tiếu (“Đất không đổi màu”), Tùng (“Dòng sông bên chùa”)... Trong “Người đàn bà khóc mướn”, nhà văn xây dựng một mối tình mang tính huyền thoại giữa một người lính tình nguyện Việt Nam với cô gái làm đào hát trong đội vũ nữ hoàng gia Campuchia. Câu chuyện bật ra chủ đề tình yêu sẽ làm cầu nối gắn kết hai dân tộc Việt-Khmer, cũng chỉ tình yêu mới làm tỏa sáng, làm ấm áp, tươi trẻ, vững bền các quan hệ láng giềng, anh em nói chung.

leftcenterrightdel

Tiểu thuyết “Đất không đổi màu”, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, H.2005.

Tiêu biểu cho sáng tác của Nguyễn Quốc Trung là “Đất không đổi màu” (năm 2005), có thể coi là cuốn lịch sử Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia được thể hiện bằng tiểu thuyết. Bởi tác phẩm đã tái hiện một cách trung thực cuộc chiến bi tráng, cũng vô cùng nhân đạo của “đội quân nhà Phật”. Nhờ họ mà cả một dân tộc mới được hồi sinh trở lại làm người. Theo lời kể của nhân vật Miên Xman, một nghệ sĩ múa, thì “Ăng Ka” bắt hết mọi người dân đi ra đồng, đào đất, sạ lúa... Chúng “đánh đến sặc máu, đánh đến chết tươi” những ai “có bệnh”...

Mở đầu tác phẩm là một hiện thực bi kịch: Tin vào “tình đồng chí”, các đơn vị ta đóng gần biên giới không hề đề phòng sự trở mặt của lũ phản động, để chúng tràn sang tàn sát đồng bào ta. Trung đoàn 3 của Dần được lệnh lên biên giới... Bộ đội vừa phải tăng gia tự túc phần nào lương thực, vừa phải đánh giặc... Họ buộc phải hành quân sang đất bạn để cứu cả một đất nước. Trong một trận đánh, theo lệnh của Trung đội trưởng Lý, Sáu Tèo dẫn tiểu đội diệt xe tăng địch, bắt sống tù binh. Tất cả ngạc nhiên và đau xót: Tù binh là trẻ con! Tiếp tục cơ động, Trung đoàn gặp bao nhiêu tình huống như thực, như hư. Chịu bao tổn thất, họ vẫn tiếp tục truy lùng tàn quân... Tiểu thuyết dừng lại, khi bước chân người lính tình nguyện vẫn hối hả tiến về vùng U Đồng, phía Tây biên giới...

Tên của tiểu thuyết là một ẩn dụ: Quân tình nguyện đã đổ máu xuống mảnh đất chùa tháp, biết bao người đã như Tiểu đội trưởng Sáu Tèo hy sinh-“máu từ ngực anh xối xuống đất khô bong, một lát loang ra đỏ sẫm mặt đất”. Màu đất vẫn không đổi. Nhưng từ mặt đất ấy đã mọc lên cây hòa bình tươi xanh, kết trái thơm tình hữu nghị anh em hai nước Việt Nam-Campuchia. Với cảm hứng sử thi cùng giọng điệu bi tráng, tác phẩm là một hùng ca, một tráng ca, cũng là một bi ca. Hợp âm ấy vang vào lịch sử, vọng về khúc hoan ca tình yêu cuộc sống, để tất cả, không phân biệt biên giới, cùng nhau hướng về chân trời hòa bình, yêu thương.

PGS, TS NGUYỄN THANH TÚ