Sinh thời, đồng chí Hoàng Quốc Việt (1905-1992), nguyên Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhiều lần kể về hội nghị và những ngày được cùng làm việc bên Bác Hồ với một niềm tin mãnh liệt. Ông khẳng định: “Nghe Bác nói, nhận thức của tôi lại càng như có nắng mới ùa vào. Từ khu rừng âm u, tôi nhìn thấy rất rõ tiền đồ tươi tắn của cách mạng nước ta và cách mạng thế giới. Viễn cảnh tươi đẹp sẽ thành hình sau đêm tối của chiến tranh hiện ra như một bình minh rạng rỡ. Chúng ta sẽ có không phải chỉ một Liên Xô mà nhiều nước xã hội chủ nghĩa khác nữa sẽ ra đời”.
    |
 |
| Toàn cảnh Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó. |
Theo hồi ký “Con đường theo Bác” (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, tái bản tháng 8-2025), đồng chí Hoàng Quốc Việt cho biết, Hội nghị Trung ương 8 diễn ra trong khu rừng kín đáo tại Cao Bằng, cách hang Pác Bó là nơi Bác ở, làm việc không xa. Nơi diễn ra hội nghị là một căn nhà sàn nhỏ, như một cái lán. Trên sàn nhà có đặt chiếc chõng tre dài làm bàn viết, một vài khúc gỗ làm ghế ngồi. Các đại biểu dự hội nghị ngồi quây quần xung quanh Bác, nghe Người trao đổi, trò chuyện.
Là đại biểu chính thức dự hội nghị nên đồng chí Hoàng Quốc Việt nhớ và ghi chép rất tỉ mỉ mọi diễn biến trong những ngày đặc biệt mang tính bước ngoặt của cách mạng nước ta cách đây tròn 85 năm. Ông cho biết, những ngày đầu hội nghị, chưa ai phải ghi chép gì nhiều, chủ yếu nghe Bác phân tích tình hình thế giới và trong nước. Ngoài giờ họp, Bác thường gọi từng đại biểu các xứ ra gặp riêng, hỏi chuyện về đời sống của nhân dân, chính sách áp bức của Nhật, Pháp... “Có lần Bác hỏi đến lực lượng của phong trào, tình hình tổ chức quần chúng, hoàn cảnh sinh hoạt của cán bộ, nhất là cách đi lại, hoạt động, phòng gian, giữ bí mật của cán bộ ta. Bác hỏi rất cặn kẽ, tỉ mỉ. Qua lời Bác hỏi, tôi cảm thấy lòng Bác thương yêu nồng nàn, quan tâm tha thiết đến đời sống của đồng bào, đồng chí ta”, đồng chí Hoàng Quốc Việt viết trong hồi ký.
    |
 |
| Lán Khuổi Nặm, nơi diễn ra Hội nghị Trung ương 8, tháng 5-1941. |
Bấy giờ, sau sự kiện Nam Kỳ khởi nghĩa, kẻ thù khủng bố gắt gao, bắt giam nhiều cán bộ, lại ở xa nên Xứ ủy Nam Kỳ không có đại biểu tham gia hội nghị. Các đồng chí: Đồ Anh (tức Bùi San), Đồ Em (tức Hồ Xuân Lưu), đại biểu Xứ ủy Trung Kỳ được Bác gọi nhiều hơn để hỏi về kinh nghiệm công tác cụ thể. Do vừa có thời gian dài công tác trong Nam ra, biết rõ tình hình trước khi có Nam Kỳ khởi nghĩa nên đồng chí Bùi San cung cấp thêm nhiều nội dung sâu về miền Nam để báo cáo Bác cũng như thông tin đến các đại biểu.
Chính sau những cuộc trao đổi chung riêng như thế, rất nhiều vấn đề đã được làm sáng tỏ tại Hội nghị Trung ương 8, như: Tình hình thế giới, trong nước và nhiệm vụ nóng bỏng giải phóng các dân tộc ở Đông Dương; đường lối đoàn kết toàn dân và chủ trương về Mặt trận Dân tộc thống nhất; kinh nghiệm của các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương và những điều kiện nổ ra khởi nghĩa; công tác xây dựng Đảng... Hội nghị xác định: Cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề phản đế và điền địa nữa. Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia-dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi được.
Cũng từ đây dần hình thành trong các đại biểu tư tưởng chỉ đạo về đường lối mặt trận để đi đến thống nhất chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông Dương và thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất rộng rãi để đánh Pháp, đuổi Nhật, giành lấy độc lập, tự do. Theo nhiều tài liệu lịch sử cũng như hồi ký cá nhân của các cán bộ lão thành, khi chọn một cái tên có tác dụng hiệu triệu thay cho Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương đang hoạt động, các đại biểu thấy hai chữ “phản đế” có phần cứng. Còn nếu thay bằng hai chữ “phục quốc” thì bấy giờ bọn thân Nhật bôi nhọ đã làm mất cả ý nghĩa tốt đẹp của hai từ ấy. Cuối cùng, theo đề nghị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, mặt trận lấy tên là Việt Nam Độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Các tổ chức quần chúng yêu nước chống đế quốc của Việt Minh đều lấy tên là “cứu quốc” nhằm tập hợp lực lượng cách mạng toàn cõi Đông Dương. Không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư bản bản xứ, ai có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận, thu góp toàn lực đem tất cả ra giành quyền độc lập, tự do cho dân tộc, đánh tan giặc Pháp-Nhật xâm chiếm nước ta.
    |
 |
| Chiếc bàn đá Bác Hồ từng ngồi làm việc ở Pác Bó, Cao Bằng từ năm 1941. Ảnh: THẾ LƯỢNG |
Tại hội nghị này, tên nước và Quốc kỳ của nước Việt Nam độc lập trong tương lai cũng được xác định. Chính phủ sẽ là “chính phủ nhân dân của Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Lá cờ toàn quốc sẽ là lá cờ đã xuất hiện ở Khởi nghĩa Nam Kỳ, màu đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh mà sau này, khi bị giam cầm trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã viết: “Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”.
“Ngày ấy, chiến tranh Xô-Đức chưa xảy ra, Bác nhận định thế nào rồi phát xít cũng tiến công Liên Xô. Nếu chúng đánh Liên Xô thì sớm muộn thế nào cũng thất bại, nhờ đó cách mạng nhiều nước có thể thành công. Suốt thời gian hội nghị, lúc nào Bác cũng mang theo cái máy chữ xách tay bên cạnh. Có thời giờ là Bác đánh máy. Toàn bộ nghị quyết và các tài liệu khác đều do Bác tự tay đánh máy hoàn chỉnh, giao cho một bộ phận liên lạc mang đi riêng vừa nhanh chóng vừa bảo đảm bí mật, an toàn cho các đại biểu khi ra về”, đồng chí Hoàng Quốc Việt kể lại trong hồi ký.
Mặt trận Việt Minh đã ra đời ở khu rừng mang tên Khuổi Nặm thuộc Pác Bó, Cao Bằng, lấy ngày kết thúc Hội nghị Trung ương 8 là ngày thành lập. Chính Cao Bằng được chọn là nơi thí điểm của Mặt trận Việt Minh. Tham gia Thường vụ Trung ương phụ trách công tác binh vận, đồng chí Hoàng Văn Thụ được phân công làm Bí thư Tổng bộ Việt Minh lâm thời.
Sau Hội nghị Trung ương 8, Bác Hồ tự tay thảo bức thư “Kính cáo đồng bào” ký tên Nguyễn Ái Quốc, nhân danh cá nhân kêu gọi đồng bào: “Hãy phất cao cờ độc lập, lãnh đạo toàn dân đánh tan thù chung... Toàn thể đồng bào tiến lên! Đoàn kết thống nhất đánh đuổi Pháp, Nhật!”. Bức thư ấy, Bác viết bằng chữ Nôm được đưa về xuôi, in li-tô (in thạch bản), phát đi rộng khắp toàn quốc bằng con đường cả công khai và bí mật. Cũng chính Người tự tay soạn thảo ra 10 chính sách lớn của Việt Minh. Ngày 25-10-1941, Tổng bộ Việt Minh công bố công khai Tuyên ngôn, Chương trình và Điều lệ.
Đây là sự kiện ghi dấu cột mốc quan trọng khi lần đầu tiên trong lịch sử, Mặt trận Dân tộc thống nhất công khai đường lối, chính sách và tổ chức lực lượng đấu tranh cứu nước, giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân. Với 44 điểm, bao gồm hệ thống các chính sách với tinh thần cơ bản “cốt thực hiện hai điều mà toàn thể đồng bào đang mong ước: (1) Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; (2) Làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do”, Chương trình của Việt Minh nhanh chóng được tuyên truyền, phổ biến đến nhân dân bằng nhiều hình thức khác nhau. Tại Quốc dân Đại hội Tân Trào (tháng 8-1945), Chương trình của Việt Minh tiếp tục được cô đọng thành 10 chính sách lớn, sau đó trở thành những chính sách cơ bản của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa khai sinh ngày 2-9-1945.
Cả một thời kỳ dài về sau, hai chữ “Việt Minh” đã trở thành từ khóa vàng làm nức lòng đồng bào cả nước, tạo nên sức mạnh to lớn trong hành trình hàng chục năm chiến đấu và chiến thắng kẻ thù.
BÙI VĂN QUÂN