“Tư lệnh” Lê Đức Thọ

Nhân vật trung tâm là Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ (bí danh Sáu), tên thật là Phan Đình Khải. Ông sinh ngày 10-10-1911, tại xã Địch Lễ, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Tháng 5-1968, đang là Phó bí thư Trung ương Cục miền Nam, theo yêu cầu của Bộ Chính trị, ông ra Hà Nội nhận nhiệm vụ phụ trách công tác đấu tranh ngoại giao, làm Cố vấn đặc biệt của đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và trực tiếp đàm phán với đại diện của Chính phủ Mỹ trong các cuộc gặp riêng về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam tại Hội nghị Paris. Cũng trong khoảng thời gian này, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký lệnh cử đồng chí Xuân Thủy giữ chức Bộ trưởng Chính phủ, làm Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ ta tại Hội nghị Paris.

Về công khai mặc dù chỉ giữ vai trò cố vấn nhưng trên thực tế, đồng chí Lê Đức Thọ chính là vị tư lệnh của chiến dịch ngoại giao đặc biệt này, được Bộ Chính trị và Bác Hồ trực tiếp giao phó. Năm 2013, ông Lưu Văn Lợi (hay còn gọi là Lợi B để phân biệt với Đại tá Lưu Văn Lợi, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ, cũng là thành viên của phái đoàn ta tại Hội nghị Paris), nguyên thư ký của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, kể: Năm 1968, khi tiễn đoàn lên đường, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn nói với đồng chí Lê Đức Thọ: “Giờ anh Sáu sẽ là tư lệnh ở mặt trận ngoại giao. Làm thế nào thì làm nhưng anh phải đạt được “Mỹ cút, quân ta ở lại”. Khi nhận nhiệm vụ, đồng chí Lê Đức Thọ đã gần 60 tuổi, nhiều hơn Kissinger-cố vấn của Tổng thống Mỹ Nixon khoảng 10 tuổi.

Theo lời kể của thư ký Lưu Văn Lợi, dựa vào lợi thế “tuổi trẻ” nên Kissinger thường muốn các cuộc làm việc với cố vấn Lê Đức Thọ diễn ra vào buổi tối và cố tình “câu giờ” nhằm kéo dài đến khuya hoặc rạng sáng hôm sau. Mục đích của ông ta nhằm khiến “Tư lệnh” Lê Đức Thọ mệt mỏi, thiếu minh mẫn hòng đưa ra những đối sách không có lợi cho ta. Và trên thực tế, các phiên họp riêng giữa Bộ trưởng Xuân Thủy, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Kissinger đều là những ngày làm việc dài, có khi hơn 10 giờ đồng hồ liên tục.

Nhưng không một lần nào ý đồ của Kissinger thành công, để rồi sau này, chính ông ta đã phải thừa nhận công khai trên truyền thông quốc tế rằng: “Tôi có thể làm tốt hơn nếu như đối diện trên bàn đàm phán không phải là ông Lê Đức Thọ”; “Đàm phán với ông Thọ quả là cân não!”; “Ông Thọ ở Paris đã mổ xẻ tôi bằng những con dao rất nhọn với tay nghề của một nhà phẫu thuật”...

leftcenterrightdel
 Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ (ngoài cùng, bên phải) và Trưởng đoàn Nguyễn Thị Bình tại Hội nghị Paris. Ảnh tư liệu

Dịp kỷ niệm 40 năm Ngày Hiệp định Paris được ký kết (1-1973 / 1-2013), chúng tôi được gặp nhiều nhà ngoại giao từng có mặt trong giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam đầu thập niên 1970. Họ đều có chung nhận xét, thời gian ở Paris, trên cương vị và nhiệm vụ của mình, đồng chí Lê Đức Thọ thực sự là một vị tư lệnh với những quyết định cương quyết và không khoan nhượng với mục tiêu trước sau như một của Việt Nam là: Chấm dứt chiến tranh, giành lại độc lập, chủ quyền và thống nhất đất nước.

Đặc biệt, kết quả của đàm phán bí mật Lê Đức Thọ-Kissinger (1970-1973) mang tính quyết định của cuộc chiến đấu trên mặt trận ngoại giao. Theo nhà ngoại giao Võ Văn Sung (1928-2018), một trong 5 thành viên của phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa tham gia ký Hiệp định Paris thì nội dung cơ bản dự thảo Hiệp định Paris đã được các bên liên quan thống nhất vào tháng 10-1972.

Trong các phiên họp kín, đoàn ta và đoàn Mỹ đã thống nhất dự kiến ngày ký chính thức là 25 hoặc 26-10-1972. Tuy nhiên, ngay sau đó, phía Mỹ tìm cớ trì hoãn bằng cách đưa ra những đòi hỏi khó chấp nhận và đề nghị có thêm một cuộc gặp với lý do Sài Gòn ngăn cản.

“Vạch mặt hành động tráo trở của Mỹ, ta công khai các nội dung Hiệp định hòa bình đã thỏa thuận cùng hai bức điện của Nixon gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Tại cuộc gặp ngày 20-11-1972, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ công khai lên án sự lật lọng của Kissinger và chính quyền Mỹ, đồng thời không chấp nhận điều chỉnh những vấn đề thuộc về nguyên tắc. Đến ngày 15-12-1972, đồng chí rời Paris về nước để báo cáo Bộ Chính trị chuẩn bị tình huống xấu nhất.

Và tình huống xấu nhất đã xảy ra đêm 18-12-1972, khi Mỹ cho máy bay B-52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương miền Bắc. Một chiến thắng về mặt quân sự mà kẻ thù mong đợi đã không xảy ra mà ngược lại, với Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” khiến 81 máy bay Mỹ trong đó có 34 chiếc B-52 bị bắn rơi, ta đã đánh bại chiến dịch tấn công bằng không quân chiến lược của Mỹ.

Trong cuộc đàm phán trở lại ngày 8-1-1973, ngay khi mở màn, đồng chí Lê Đức Thọ đã nghiêm khắc lên án hành động của Mỹ, yêu cầu chấm dứt mọi thủ đoạn thương lượng trên thế mạnh và đi vào đàm phán nghiêm chỉnh. Phía Mỹ không ai phản đối và chỉ cúi đầu im lặng!”-ông Võ Văn Sung kể.

Madam Bình - bà hoàng Việt Cộng

Đó là biệt danh mà báo chí phương Tây đặt cho bà Nguyễn Thị Bình (tên khai sinh là Nguyễn Thị Châu Sa), Anh hùng Lao động, nguyên Phó chủ tịch nước, Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam kiêm Trưởng phái đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris. Bà sinh năm 1927, quê ở Quảng Nam.

Thân mẫu của bà là con thứ hai của cụ Phan Chu Trinh-nhà hoạt động chính trị thời cận đại nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Được tiếp nhận sự giáo dục cả của phương Đông và phương Tây, Nguyễn Thị Bình sớm có những tư tưởng tiến bộ rồi tích cực tham gia hoạt động cách mạng. Cuối năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập. Sau đó, Nguyễn Thị Bình được Ban Thống nhất Trung ương đề nghị chuyển sang hoạt động ngoại giao cho Mặt trận.

Qua gần 6 năm làm công tác này, bà vinh dự được lựa chọn tham gia cuộc đàm phán lịch sử ở Paris. Suốt gần 5 năm đàm phán tại hội nghị, bà chủ trì rất nhiều cuộc họp báo, có cuộc có đến 400 nhà báo tới từ 100 quốc gia khác nhau trên thế giới. Bằng tài năng, sự tự tin, hòa nhã, mềm mỏng nhưng cũng vô cùng kiên định, bà đã giành được sự kính phục, tôn trọng của các chính khách, các nhà báo quốc tế và ngay cả đối thủ của mình. Giờ đây, khi đã ở tuổi gần bách niên, nữ chính khách từng được báo chí phương Tây tôn vinh là “bà hoàng Việt cộng” vẫn minh mẫn.

Bà cho biết: “Khi rời Hà Nội lên đường sang Pháp cuối tháng 10-1968, tôi không ngờ cuộc đàm phán sẽ kéo dài đến tận ngày 27-1-1973. Mặt trận ngoại giao không có tiếng súng nhưng phía sau mỗi phiên họp, mỗi điều khoản được đưa ra đàm phán đều được đánh đổi từ máu và nước mắt của cả một dân tộc. Là người đại diện cho tiếng nói của nhân dân trên trường quốc tế, chúng tôi không bao giờ quên điều đó, tuyệt đối không khoan nhượng với đối phương, quyết đạt được mục tiêu hòa bình, thống nhất cho dân tộc. Đối phương có quyền hỏi, đưa ra điều kiện của họ, còn đáp ứng hay không là quyền của chúng ta”.

leftcenterrightdel
 Nụ cười rạng rỡ của "bà hoàng Việt cộng" Nguyễn Thị Bình. Ảnh tư liệu

Là một trong những phụ tá của Trưởng đoàn Nguyễn Thị Bình, nhà báo Hà Đăng, nguyên Trưởng ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương) vẫn nhớ như in những ngày giúp việc cho bà Nguyễn Thị Bình. Ông nhận nhiệm vụ sang Paris do Tổng biên tập Báo Nhân Dân Hoàng Tùng giao vào một ngày đầu tháng 11-1968. Nhận nhiệm vụ hoàn toàn mới với không ít băn khoăn nhưng nhà báo Hà Đăng vui vẻ chấp hành và sẵn sàng lên đường ngay. Do công tác bí mật nên đến tận trước ngày chính thức rời Việt Nam, ông mới biết được phân công tháp tùng Trưởng đoàn Nguyễn Thị Bình.

Sau này, tuy chưa có văn bản công nhận chính thức, ông vẫn được xem là người phát ngôn của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris. Đến tận bây giờ, kỷ niệm sâu sắc trong những ngày đặc biệt ấy mà ông nhớ mãi là lần theo dõi tại trường quay cuộc tranh luận nảy lửa với các nhà báo quốc tế trong chương trình truyền hình thực tế có chủ đề “Le Vietnam” trực tiếp trong hội trường khách sạn George V (Paris) cũng như nhiều cuộc trả lời phỏng vấn báo chí khác của bà Nguyễn Thị Bình.

“Không chỉ chúng ta mà nhiều bạn bè quốc tế đều thể hiện sự khâm phục đối với chị. Trước các câu hỏi gần như dồn dập, đôi khi người hỏi còn cố ý “chơi xấu”, với phong thái điềm tĩnh, nụ cười và ánh mắt cương nghị luôn thường trực, chị Bình ứng phó linh hoạt, lập luận sắc sảo. Đến giờ, nhớ lại hình ảnh chị Nguyễn Thị Bình-người phụ nữ duy nhất đặt bút ký vào bản hiệp định chiến thắng tại phiên cuối cùng của Hội nghị Paris, trong tôi vẫn vẹn nguyên niềm xúc động, tự hào như hơn 50 năm trước”-nhà báo Hà Đăng bồi hồi nói.

BÍCH TRANG - HÒA BÌNH