Tháng 2-1949, chàng thanh niên Nguyễn Đức Thịnh (quê ở Tam Nông, Phú Thọ) nhập ngũ vào bộ đội địa phương Huyện đội Tam Nông. Dù tuổi còn nhỏ, song Thịnh luôn cố gắng luyện rèn, phấn đấu, hoàn thành các nhiệm vụ được giao.
Khi thành lập Tiểu đoàn 600 làm nhiệm vụ bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Nguyễn Đức Thịnh được lựa chọn, biên chế về Tiểu đoàn. Tháng 9-1954, để chuẩn bị về tiếp quản Thủ đô và bảo vệ Bác Hồ, bảo vệ Trung ương cũng như các địa bàn, mục tiêu trọng điểm ở Hà Nội, Tiểu đoàn 600 được nâng cấp thành Trung đoàn 600. “Từ ngày 2-10-1954, Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã phái các đội công an trật tự, cảnh vệ, hành chính vào thành phố trước để bảo đảm an ninh. Lúc đó, tôi là Phó trung đội trưởng Trung đội 3, Đại đội 2, Trung đoàn 600. Đơn vị tôi được giao nhiệm vụ chuẩn bị 3 căn nhà bảo đảm an toàn tuyệt đối về mọi mặt. Đến ngày 14-10, tôi nhận được lệnh chuẩn bị kỹ nơi ở để đón Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi đó tôi mới biết 3 căn nhà ấy là để chuẩn bị cho Bác làm việc khi về Thủ đô. Đêm 14, rạng ngày 15-10, Bác Hồ về tới Hà Nội. Bác ở và làm việc tại một phòng trong Nhà thương Đồn Thủy. Đến tháng 12-1954, Trung ương mời Bác về khu Phủ Chủ tịch để tiện cho Bác chủ trì các cuộc họp Chính phủ và tiếp khách”, ông Nguyễn Đức Thịnh kể.
    |
 |
| Ông Nguyễn Đức Thịnh (bên phải) kể về những năm làm nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ. Ảnh: QUANG TRẦN |
Nhớ về những ngày làm việc, phục vụ Bác Hồ, ông Nguyễn Đức Thịnh rất xúc động. Ông lấy bức ảnh Bác chụp với các đại biểu, cán bộ và chiến sĩ bảo vệ Đại hội lần thứ III của Đảng (tháng 9-1960) giới thiệu với chúng tôi. Ông chia sẻ: “Trong cuộc sống hằng ngày, Bác rất giản dị. Giản dị từ trong sinh hoạt đến cách ứng xử với cấp dưới, với đồng bào. Ví dụ như trong bữa cơm thường ngày, trước khi ăn Bác đều san bớt thức ăn ra một đĩa trống, để ngoài mâm. Lúc đó, thấy mọi người thắc mắc, Bác liền nói: “Ăn hết Bác sẽ lấy thêm, không ăn hết thì để người khác ăn, đừng để ai ăn đồ thừa của mình”. Bác còn lấy vải lụa do đồng chí Kim Nhật Thành, Thủ tướng (sau này là Chủ tịch nước) nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên tặng để tặng chúng tôi. Miếng vải lụa Bác tặng, tôi đem về cho vợ may thành một chiếc áo dài. Mỗi khi có sự kiện quan trọng, vợ tôi lại mang ra mặc. Đến nay, gia đình tôi vẫn giữ chiếc áo dài ấy làm kỷ niệm”.
Ông Thịnh còn kể rằng, những anh em công tác trong Phủ Chủ tịch hằng ngày vẫn đi lại bằng xe đạp, thỉnh thoảng có gặp Bác đi bộ. Nhìn thấy Bác, mọi người đều xuống dắt xe chờ Bác đi qua rồi mới lên xe đi tiếp. Thấy vậy, Bác thường khoát tay ra hiệu bảo anh em cứ đi tiếp, không cần xuống xe. Nhưng không ai cho phép mình ngồi trên xe khi gặp Bác đi bộ. Một lần, Bác gọi đồng chí vừa xuống dắt xe lại gần và bảo: “Chú có công việc của mình nên cứ tiếp tục đạp xe mà đi. Bác đâu có phải là cái đền có biển “hạ mã” ở trước để ai đi qua cũng phải xuống xe, xuống ngựa...”.
Bác Hồ đi công tác thường giữ bí mật, không cho cơ quan thông báo trước. Có lần Bác vào làm việc với tỉnh Nghệ An, khi đến nơi, tỉnh mới biết Bác đến. Xong việc, các đồng chí lãnh đạo tỉnh mời Bác ở lại dùng cơm, nhưng Bác bảo: “Các chú có cơm các chú ăn, Bác cháu ta có cơm bác cháu ta ăn”. Hay lần Bác về Đền Hùng cũng vậy. Đến nơi đã quá trưa, Bác xuống gốc cây đa đầu làng nghỉ ngơi rồi ăn cơm. Bác không muốn làm phiền đến cán bộ và nhân dân. Đến đâu Bác cũng làm việc nhanh gọn rồi đi ngay. Có hôm mặc dù đã đến bữa, nhưng để kịp thời gian về Trung ương họp, Bác lên xe rồi ăn trên ô tô cho tiện...
6 năm (1954-1960) làm công tác bảo vệ, phục vụ Bác Hồ là quãng thời gian vô cũng ý nghĩa đối với ông Nguyễn Đức Thịnh. Ông đã học được ở Bác biết bao kiến thức và nhân cách cao đẹp, trở thành hành trang quý giúp ông phấn đấu, vượt qua những gian nan, thử thách, cống hiến hết mình cho cách mạng. Đến tháng 4-1991, ông Nguyễn Đức Thịnh nghỉ hưu với quân hàm Đại tá Công an nhân dân.
TRẦN QUANG ĐÔNG