Đại đội 1, Tiểu đoàn 2: Chính trị viên là anh Năm Thạnh, Đại đội trưởng là Tư Chiều.

Sau nhiều ngày hành quân, giấu quân trong vườn mía, ngày Ba Mươi Tết, đến vị trí tập kết 1. Mồng Một ăn Tết trong vườn mía (cơm vắt). Thọc sâu ăn Tết với đồng bào, chưa biết ngày N và mục tiêu. Trưa Mồng Một Tết, đại đội mới nhận nhiệm vụ chiến đấu. Trong vườn mía anh em đi lào xào sợ lộ, không họp đại đội mà chỉ họp cán bộ trung đội, xem sơ đồ vẽ trên giấy chung chung (chưa ai đi trinh sát thực địa). Tin tưởng, hợp đồng binh chủng, phấn khởi (biết khó khăn nhiều nhưng không bàn), lo nhất: Đánh phố phường, đường sá nhà cửa, vận động ra sao; anh em hình dung địch dày đặc một cục, rào dấp hết, không hiểu địch bố phòng thế nào? Về B40 ta có 3 trái, B41: 1 trái. Học tập đã nhiều chờ đợi giờ phút lịch sử này, quyết dứt điểm một phần Bộ Tổng Tham mưu. Tin rằng sẽ lấy được súng đạn địch, sẽ có hợp đồng lớn. Vấn đề thương binh có lo lắng, nhưng tin sẽ đưa được vào dân chăm sóc “vì đã có kinh nghiệm chiến đấu vùng sâu, thấy dân tốt”. Bộ Tổng Tham mưu nằm trong ruột Sài Gòn phía tây đường bay Tân Sơn Nhất, xung quanh là đông đảo phố xá Sài Gòn. Chuẩn bị súng đạn, bỏ lại nồi niêu, quần áo, sổ sách, bi đông, túi. 5 giờ 30 phút chiều ra bờ liền sát vườn mía họp đại hội quân nhân nêu nhiệm vụ toàn miền, nhiệm vụ cụ thể, truyền đạt quyết tâm.

leftcenterrightdel
Nhà báo Phạm Phú Bằng cùng những ghi chép của ông cách đây 50 năm. Ảnh: THANH TÚ

“Thiêng liêng lịch sử quá, không ai nghĩ lo chuyện khó khăn nữa”, “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, mình là người trong đội xung kích. Các đồng chí đau yếu đều đi (dạ dày, yếu, sốt), hạ quyết tâm: “Qua sông không trở lại, trở lại thì đi đường tráng nhựa”. Chỉ phổ biến đêm đánh, nhưng không nói giờ G. Cơ sở đón anh em vô nhà dân ăn Tết, một nhà mấy chục người. Thấy ta khỏe mạnh dân mừng, lần đầu tiên thấy ta đông và mạnh như thế (một người có thể đánh “7 dân vệ”). Ta vào ấp lúc tối, tự do thoải mái, dân chúc các con giải phóng mạnh khỏe, bà con sẽ làm heo. Anh Năm Thạnh ăn nhà má Ba: Thịt kho tàu, khổ qua hầm, dưa kiệu, dưa giá, rau sống, dưa hấu, chuối, bánh tét, mứt, rượu, xong lại cho mỗi người một bát cơm. Đêm hành quân chạy nước rút, đứt đuôi, lạc đường, mờ sáng lại tránh vô vườn mía, lại được cho một bát cơm. Ba đêm sáng trắng hành quân. 11 giờ đêm xuất quân từ vườn của dân, vừa bước ra là trực thăng quần đảo, soi rọi một tiếng. Trên phổ biến là có ghe nhưng ra bến thì chiếc lớn bị thủng, chỉ còn chiếc xuồng nhỏ rò nước (chỉ chở được 5 người). Lệnh tiểu đoàn là tất cả lội sông. Sông rộng, ôm bọc ni lông mà lội, qua sông an toàn hết. Nghe phía Củ Chi, Biên Hòa, Thủ Đức súng đã nổ, lửa đỏ trời, nôn nao, phấn khởi. Anh em chạy qua xóm di cư, chó sủa như cơm sôi, lao nhao không tưởng được…

Qua bãi ruộng, pháo sáng dữ, cách bờ thành 150 mét có 8 lô cốt, đơn vị phải đi lom khom và bò hàng cây số, ruộng lầy tới rốn, dòm thấy lính địch gác ló đầu. Tới đường, chuẩn bị tư thế vọt qua, bắc thang qua, đút súng dưới dây thép leo qua cho nhanh. Qua đám lầy 200m đã thấy lô cốt, xách dép lội bùn vẫn ráng giữ bộ quần áo sạch sẽ để mình về thành phố, mặc quần dài, mang giày dép. Lúc này súng các nơi lốp đốp. Trinh sát ta ra bám đường. Qua bãi rác là phố xá ngay (nhà lá, nhà lầu, đường hẻm, đường nhựa), anh em phấn khởi nhìn thành thị đèn điện sáng rực, phấn khởi coi địch như không. Ủa sao đây trống rỗng vậy, không có canh gác gì, anh em coi thường (lúc đầu bên ngoài còn xa thì sợ). Đại đội 3 nổ súng nhà máy nước, anh em coi bình thường, đội hình cứ chạy cho lực lượng kiềm chế. Mờ mờ sáng, xe cộ chạy lai rai, anh em ta ra đón xe, xét giấy bắt được 5 lính. Bộ Tổng Tham mưu địch phía trước, nhìn vào chỉ thấy hàng rào dây thép gai xen cây bít rịt, thấy một số nóc nhà ngói lô nhô và nóc nhà lầu xa xa. Dân bất ngờ không rõ ai, có người biết là quân giải phóng, có người cho là đảo chính. Ta nói lại cho rõ là quân giải phóng về giải phóng Sài Gòn. Nhưng rồi thấy gay, bạn không đánh, không pháo kích, không rõ được bên trong ra sao, xe cộ đi lại nhiều.

Nhiệm vụ của đại đội là đánh đoạn giữa, sau là đánh trái, mở rào bằng rựa chặt dây thép gai, vô nhà dân mượn được cái kìm phá được một lỗ hổng, địch chưa hay biết, trời sáng, đèn điện đã tắt. Người vào trước gặp lính trong nhà ra nổ súng, nó co lại giữ bờ đê có súng 12,7mm (Đại đội 2 cứ đi tiếp vô). Nhà đầu tiên chiếm được là kho đạn, súng, máy quay phim điện ảnh, máy quay dây của cố vấn Mỹ. Phòng tham mưu, quân huấn đầy sổ sách, tài liệu đầy căn nhà. Phòng lớn có ghế đệm, bàn dài, telephone nhiều, có tủ lạnh, ti vi, có huân chương trên tường, lại qua nhiều dãy nhà trông như giảng đường, có bàn đánh máy, có một bức thư trên tường chào mừng sĩ quan Nam Hàn đến tập huấn, bộ phận tài chính, tài vụ, con dấu bằng đồng đầy bàn. Một nhà do Trung đội 1 diệt nhiều địch nhất, diệt 20, bắt 20 trung sĩ, thượng sĩ, đâu đâu cũng sổ sách, giấy tờ. Bắt một tù binh, anh ta khai là thợ mộc, chỉ đường kho súng, ta phá được 250 khẩu Thompson, Carabine, nhiều khẩu 12,7mm, 2 đại liên Mã Lai, 1 Bazooca 90, 1 tủ to đựng Carabine và súng côn. Chiếm 10 khu nhà mà bị thương một người, địch co cụm về bên phải đơn vị. 8 giờ sáng là chiếm xong khu vực, một xe hồng thập tự xộc vô, 30 phút sau có một xe chở đầy lính có Mỹ, 2 đại đội ta bắn vào đấy.

10 giờ trưa, một tiểu đoàn thủy quân lục chiến bọc phía sau lưng ta đánh tới, chiếm nhà lầu 3 tầng ngoài rào (nhà dân) bắn vào phía ta. Tiểu đoàn bộ diệt được 2 xe GMC đầy lính, địch rút về củng cố, dùng trung liên bắn sau lưng ta, ta cho cối dập, nó chạy hết. Cổng số 2 xuất hiện một xe ngầm bắn ngang sườn đơn vị, ta dùng B40 diệt không được, B41 thì chỉ còn một trái đạn, tính toán mãi, thấy nó là xe cố định đang bắn ĐK và đại liên về phía ta, ta bắn không kết quả, toát mồ hôi, xe này thành vật chướng ngại, còn bọn trên lầu nữa làm khó ta. 15 phút sau có xe M113 vào giữa đội hình ta, ta bò ra 15 mét bắn một phát B40, lính nhảy khỏi xe (đồng chí C bắn chiếc xe thiết giáp này). Chiến sĩ ta bắn lên nóc nhà, bắt lính địch chạy trốn, trực thăng bắn xuống nó mới chịu xuống. Chính trị viên nói: Kỳ này rất đặc biệt, thành công rất nhẹ nhàng (ai cũng quyết tâm, phấn khởi). Trực thăng bắn từ 12 giờ trưa tới chiều, bộ binh địch vào là ta bắn. Đến chiều nó tấn công đợt 2 bằng thủy quân lục chiến, có xe lu Mã Lai xọc vô đội hình quá nhanh, B40 bắn không kịp, sau đó B40 diệt nó. Nó chựng lại. Chiều nó bao vây ba mặt, ta hết đạn B40, liên lạc với tiểu đoàn bị đứt. Một trái B40 liều thuốc phóng bị ướt nhưng may bắn được, rất mừng. Đại đội chỉ còn 15 người mà vẫn quyết tâm nghe ngóng xung quanh nổ súng. Chiều, nó gọi PRC 10 chuẩn bị đánh hủy diệt ta thì ta tản ra, trực thăng UH bắn cháy sập hết. Chiều tối, 5 giờ mà khói đất cát bung lên sẩm trời. Hết trực thăng UH ta quay trở lại phòng ngự, đem được thương binh ra ngoài.

Chuyển đến vị trí thứ hai, anh em tắm giặt sửa soạn đàng hoàng. Ngày thứ ba, dân lại động viên chăm sóc, anh em càng phấn khởi. Lại có bổ sung nhiều tân binh tại chỗ (nhờ cơ sở). Lúc bấy giờ đơn vị có 2 mối lo, một là bắt liên lạc với trên, hai là phải bắt mối hoạt động với cơ sở, dân ở đây đã chôn cất cho 2 tử sĩ, phân công trẻ em vùng này chăm lo ngôi mộ, xây tử tế, có địa chỉ. Anh em nói dân thích mình lắm, khoái mình lắm, có chị liếc, đi qua đi lại, cho sữa, cho thuốc nhưng không dám lộ liễu, chuyện ấy mà lộ ra thì sẽ bị địch bắt giam và kìm kẹp. Một ông già thấy ta đang xây công sự, ông nói mấy em về, qua mừng lắm, lâu nay quá căm thù… bây giờ đi lấy gỗ, đào vườn, việc nước trước, việc nhà sau gọi các con đi nấu cơm như ngày Tết. Nhà hai vợ chồng, có một con, một cháu, gái 20 tuổi và 18 tuổi, gia đình đã tản đi xa, ông già không chịu đi, “tao ở lại với anh em, người ta sao mình vậy”. Thời gian sau khi ông đi, ông đã giao chìa khóa còn bảo rằng ăn hết đồ ngoài rồi mở cửa đến nhà trong, ở đấy còn gà và tha hồ bánh tét, thịt rượu, nước chanh và khi chuyển đi thì anh em treo khóa lại cho tôi. Đấy là một nhà gạch kiểu xưa, có vườn vú sữa và mãng cầu. Ông động viên anh em cứ làm công sự đi để đánh nó, nó vô thì tôi nói cho biết.

Chuyển đến vị trí thứ ba anh em ta mạnh dạn hơn. Trời, súng ngon quá, mấy chị lớn thấy ta đẹp trai thương lắm, có chị kể, nhà tôi có người tập kết… Tết năm nay mấy chị làm bánh nhiều lắm, vì biết các anh thế nào cũng về. Một ông già nói:

- Các chú ở đâu về, sao nhanh vậy?

- Chúng tôi đi bộ từ Bời Lời về.

- Nhà tôi có bán thuốc tiêm, có ít bông băng đây.

Một bà trung tuổi dúi tiền cho. Hai thanh nữ trầm trồ qua lại rình rình móc tiền cho vào tay rồi chạy (vì sợ lộ, sợ ta từ chối). Thiếu nhi mang chuối và quýt vào tặng mấy anh rồi chạy. Một chị ngoài 20: Em đến đây để chăm sóc thương binh. Nhờ cô đi mua bông băng, penicillin. Sau cô lại xách 4, 5 con gà cho, cô còn ở lại nấu chín.

Trực thăng bắn xuống cả xóm, dân phải tản đi. Chị Sáu mua được nhiều thuốc cầm máu. Lính phấn khởi vô cùng, không ai ngủ được, tuy thức mấy hôm liền. Mấy thanh niên đến đòi súng, ta dạy cho ngay, vài phút là thành giải phóng quân! Anh em cũng tiếp tay làm công sự, nằm ngay trận địa. Giải quyết xong vấn đề thương binh, đơn vị rất nhẹ nhàng (thương binh gửi cơ sở địa phương). Ta rút về, qua sông gặp ghe lớn, ta thề không trở về, vứt hết ni lông, gạo. Gần đó có một xóm dân. Em nhỏ 10 tuổi, lính ta hỏi:

- Em sao không tản cư?

- Mấy anh sao, tôi vậy.

- Sao gan thế?

- Ba tôi như mấy anh.

- Ở đâu?

- Ở chiến khu.

- Làm gì?

- Làm quân.

Rồi chạy mất...

PHẠM PHÚ BẰNG