Ngày Thơ Việt Nam được tổ chức lần đầu tiên vào Tết Nguyên tiêu (rằm tháng Giêng) năm Quý Mùi 2003 tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám, Hà Nội.

Ngày Thơ Việt Nam lần thứ nhất được tổ chức đông vui và long trọng. Mở đầu bằng lễ kéo Lá cờ thơ, rồi ngâm đọc bài thơ “Nguyên tiêu” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau đó là các chương trình giao lưu thơ với công chúng, đọc những bài thơ hay nhất của đất nước, ngâm thơ, bình thơ v.v.. Kể từ đó đến nay, Ngày Thơ Việt Nam đã tổ chức được 15 lần, không chỉ ở Văn Miếu mà nhiều nơi trong cả nước.

leftcenterrightdel
 
leftcenterrightdel
Ngày Thơ Việt Nam 2018. Ảnh: BÍCH THU

Trước đó, Ngày thơ Quảng Ninh lần đầu tiên đã được tổ chức vào ngày 29-3-1988, nhân kỷ niệm 520 năm (1468-1988) ngày Hoàng đế-thi sĩ Lê Thánh Tông cho khắc bài thơ nổi tiếng của ông lên vách núi Truyền Đăng (núi Bài Thơ ở TP Hạ Long ngày nay). Từ đó đến nay, Ngày thơ Quảng Ninh dần trở thành ngày hội ngộ truyền thống của văn nghệ sĩ Quảng Ninh và đã thành nét đẹp văn hóa của những người yêu thi ca nơi đất mỏ. Cùng với “Đêm thơ Nguyên tiêu” trên núi Nhạn (TP Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên), Ngày thơ Quảng Ninh chính là gợi ý quan trọng để Hội Nhà văn Việt Nam chọn ngày rằm tháng Giêng (Tết Nguyên tiêu) hằng năm là Ngày Thơ Việt Nam.

Sở dĩ chọn rằm tháng Giêng hằng năm là Ngày Thơ Việt Nam xuất phát từ bài thơ “Nguyên tiêu” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ấy là bài thơ xuân, thơ trăng hay nhất của Bác Hồ; đồng thời là bài thơ tiêu biểu của thơ Việt Nam, đỉnh cao thơ ca dân tộc.

Như mọi người đã biết, năm 1947, thực dân Pháp mở những trận càn lớn vào Chiến khu Việt Bắc. Song, chiến thắng Sông Lô và trận Bông Lau vang dội vào tháng 10-1947 đã đập tan mưu đồ đánh chớp nhoáng của thực dân Pháp. Đầu Xuân Mậu Tý 1948, tại “Thủ đô gió ngàn”, Bác Hồ-vị Tổng tư lệnh tối cao, người Cha thân yêu của các LLVT đã cùng với Trung ương Đảng bàn bạc kế hoạch quân sự cho những chiến dịch tiếp theo. Sau cuộc họp ở chốn “yên ba thâm xứ”, Bác xuôi thuyền về căn cứ Chiến khu Việt Bắc. Đêm về khuya, trăng sáng, vẻ đẹp huyền ảo thiên nhiên đại ngàn nơi này đã tạo nên cảm hứng trào dâng, Bác đọc bài thơ “Nguyên tiêu” bằng chữ Hán:

Kim dạ Nguyên tiêu nguyệt

                                   chính viên

Xuân giang xuân thủy tiếp

                                  xuân thiên

Yên ba thâm xứ đàm quân sự

Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền

 Xuân Thủy dịch:  

       Rằm xuân lồng lộng trăng soi

Sông xuân nước lẫn màu trời

                                      thêm xuân

       Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân

                                   đầy thuyền

Bài thơ là một bức tranh xuân với những nét vẽ, gam màu đậm chất “xuân” tươi tắn và thanh thoát. Đêm “Nguyên tiêu” trăng lồng lộng trên một không gian bao la của Chiến khu Việt Bắc. Trăng rằm tháng Giêng vừa tròn (nguyệt chính viên) mang vẻ đẹp trong sáng khác thường, cảnh thêm hữu tình. Bài thơ viết trong khoảnh khắc nhưng toát lên vẻ đẹp của ánh trăng rằm mênh mang giữa tiết trời xuân ấm áp hơi thở cuộc kháng chiến chống Pháp. Trăng Nguyên tiêu là trăng ước hẹn, trăng viên mãn, đồng vọng với niềm hy vọng và là sự giao hòa giữa con người với đất trời vào xuân. Trong hoàn cảnh này, nhà thơ đang thưởng trăng Nguyên tiêu không chỉ mang cốt cách như các tao nhân mặc khách ngày xưa, mà còn là con người hành động, người chiến sĩ cách mạng, vị lãnh tụ đang “bàn bạc việc quân”. Đây là một trường hợp “ngắm” trăng rất đặc biệt: “Yên ba thâm xứ đàm quân sự”. “Yên ba” là khói sóng, một thi liệu cổ trong Đường thi được Bác vận dụng rất tinh tế và sáng tạo càng làm cho bài thơ mang đậm dấu ấn cổ điển. Và kết hợp với ba chữ “đàm quân sự” lại làm cho vần thơ mang màu sắc hiện đại và không khí lịch sử của thời đại.

Bài thơ còn có một điểm thú vị nữa, hình ảnh trăng xuất hiện từ câu thơ đầu và kết thúc là hình ảnh “nguyệt mãn thuyền” đã trở thành thuyền thi tứ đong đầy ánh trăng. Câu thơ làm ta nghĩ đến những ngày kháng chiến gian khổ, Bác đã hướng tới vầng trăng rằm tháng Giêng, hướng tới bầu trời xuân với một tâm hồn trong sáng và một phong thái ung dung. Con thuyền chở đầy ánh trăng cũng là con thuyền kháng chiến đang hướng tới chiến công và niềm vui thắng trận. Cái đẹp của thiên nhiên hòa quyện với vẻ đẹp cốt cách, phong thái ung dung tự tại của Bác, hai con người chiến sĩ-thi sĩ hòa quyện nhau. Bài thơ không có từ sáng nào, nhưng tràn ngập ánh sáng của trăng, của sông nước, của niềm lạc quan, lãng mạn cách mạng. Cảm hứng của “Nguyên tiêu” là cảm hứng của niềm vui, hạnh phúc, tin tưởng và hy vọng.

Nhà nghiên cứu văn học Lê Xuân Đức, chuyên gia về thơ ca Hồ Chí Minh viết: Cái hữu hạn của sông xuân, nước xuân đồng nhất với cái vô hạn của bầu trời xuân làm cho không gian trở nên bát ngát như tấm lòng và tâm thế nhà thơ vậy. Bất ngờ và thú vị nhất là câu thơ bỗng xuất hiện ba chữ “đàm quân sự”. Đó là việc cuộc đời, nhưng đó cũng chính là thơ. Việc quân cũng nên thơ lắm chứ sao. Bàn việc quân giữa khung cảnh đầy xuân sắc lại càng nên thơ, và quả đã thành thơ thật. Và, chuyên gia văn học Lê Xuân Đức viết tiếp: “Đêm trăng tròn và sáng đầu tiên của mùa xuân mới, tự nó đã là một niềm tin yêu, một niềm vui, niềm hứa hẹn. Một kế hoạch đánh địch, thắng địch được quyết định trong đêm trăng tròn đẹp như vậy, nên thơ như vậy, chắc chắn người cầm quân-thi nhân ở cái tầm hoàn toàn làm chủ tình thế, nắm chắc thế trận, biết ta biết địch mới có cái thế ung dung, cái tứ thơ lồng lộng hòa quyện một cách hoàn toàn tự nhiên với cái đẹp, cái trong sáng của vũ trụ giữa đêm rằm tháng Giêng”...

“Nguyên tiêu” là một bài thơ đứng ở vị trí hàng đầu trong một trăm bài thơ hay nhất thế kỷ 20, do Trung tâm Văn hóa Doanh nhân và Bộ Giáo dục và Đào tạo tuyển chọn. Hội Nhà văn Việt Nam đã quyết định lấy rằm tháng Giêng hằng năm, ngày Bác Hồ viết bài thơ “Nguyên tiêu” nổi tiếng ra đời từ rằm tháng Giêng Mậu Tý 1948 là Ngày Thơ Việt Nam. Từ đó đến nay, vào ngày rằm tháng Giêng, trên khắp mọi miền đất nước đều diễn ra nhiều hoạt động phong phú như kéo Lá cờ thơ, ngâm thơ, đọc thơ, bình thơ, sáng tác thơ, giao lưu giữa nhà thơ với công chúng, xem thư pháp thơ, thả thơ hay lên trời… Tất cả thể hiện một tình yêu với thơ, một tâm hồn thơ; đồng thời, đó là nét độc đáo trong văn hóa Việt Nam, đặc biệt trong dịp Tết đến Xuân về, trong dịp Tết Nguyên tiêu-ngày rằm đầu tiên của năm mới.

Trong cuốn sử của Hội Nhà văn Việt Nam có ghi: Năm 2003, làng văn nước ta có hai sự kiện đáng chú ý: Thứ nhất là Hội Nhà văn quyết định lấy ngày rằm tháng Giêng hằng năm làm Ngày Thơ Việt Nam. Đây là lần đầu tiên làng thơ Việt có một “ngày của mình”. Và thứ hai, cũng lần đầu tiên làng thơ Việt có một lá cờ của mình-cờ thơ! Một trong những nhân vật chính đã góp công sức và trí tuệ làm nên hai sự kiện trên là nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ Nguyễn Trọng Tạo. Ông có lần kể về việc tham gia vẽ Lá cờ thơ và ra Báo Thơ (phụ bản Báo Văn Nghệ) rằng, nghe nhà thơ Hữu Thỉnh thông báo: Cấp trên đã đồng ý cho hội tổ chức Ngày Thơ Việt Nam và đồng ý phải có Lá cờ thơ, Báo Thơ, ông mừng lắm. Có nhiều họa sĩ tham gia vẽ mẫu cờ thơ, nhưng mẫu của ông được chọn. Cờ thơ, theo ông trước hết phải là một lá cờ có sức vẫy gọi, tập hợp đội ngũ những người làm thơ, yêu thơ, khi nó được kéo lên. Cờ thơ còn là cờ của văn hóa, của lễ hội Việt, lại vừa phải rất thơ… Bây giờ thì những người yêu thơ đã nhiều lần chào Lá cờ thơ Việt Nam. Được biết, Nguyễn Trọng Tạo không chỉ làm thơ, soạn nhạc, mà ông còn vẽ tranh, vẽ bìa sách, làm mi sách, báo. Có năm ông giành được giải thưởng về bìa sách đẹp.      

Thập Tam trại, Xuân 2018

NGÔ VĨNH BÌNH