Họ đến Bức tường tưởng niệm, lặng lẽ bước chậm rãi dọc theo lối đi dưới chân những phiến đá đen dựng đứng. Họ đi chậm rãi, nhìn rõ hình bóng gương mặt mình phản chiếu lên mặt đá lẫn giữa dòng tên khắc in trên đá: Phrét-đi A.Blắc-bơn, Đa-ni-en Đi-a-dơ, Bô-đi Ray Giôn, Ha-ly W.Xmít trong số 58.196 tên những binh sĩ đã chết trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Thông thường họ dừng lại, đưa ngón tay lần dọc theo hàng tên, họ đang sờ tay chạm đến kí ức một cuộc chiến tranh mà bức tường này còn giữ mãi không quên. Những lúc đó, họ không chỉ là du khách đến thăm Bức tường tưởng niệm binh sĩ tử trận trong cuộc chiến tranh Việt Nam nhân chuyến đi thăm các tượng đài thủ đô Oa-sinh-tơn, mà họ là những người hành hương, đang thực hiện chuyến đi tới một địa danh đã trở thành ngôi đền thờ quốc gia, một nơi để lưu giữ những kỉ vật gợi đau buồn.
*
* *
Từng người khẽ nghiêng mình rồi để lại mộ món quà tặng-một mảnh giấy viết vội, một lá cờ nhỏ, một bông hồng, một tấm lắc cháy xém, một con gấu nhồi bông đem đến từ một thời xa lắm. Một chiếc mũ để lại với bài thơ ngắn đại ý “Khi chúng tôi chạm tay vào Bức tường này, chúng tôi biết rằng các anh đang ở đây”. Có những người lại thích đến vào ban đêm. Họ đi qua những cựu chiến binh đang trực ở đây rồi bước vào bóng tối của Bức tường, để lại đó một vật lưu niệm vào đêm đen.
 |
| Bức tường tưởng niệm binh sĩ Mỹ tử trận. |
Người ta hay để lại những vật bình thường. Đồ chơi của những đứa con trai, những đứa em trai của người bố hay của người anh có tên trên bức tường. Những chiếc huy hiệu, những tấm lắc quân nhân (ghi tên, đơn vị, số lính… giữ trong người) và những huân chương của những binh sĩ đã vĩnh viễn đi vào quá khứ. Những tấm thiệp sinh nhật của các bà mẹ. Những mẩu thư ngắn của những bạn gái cùng trường nay đã lớn tuổi. Lin-đa viết cho Ga-ry, Đông và Bin-ly, những bạn trai cũ cùng lớp trung học phổ thông nay đã có tên trên Bức tường: “Chà, thời gian cứ cuốn trôi và cuộc họp lớp của khóa 1965 tổ chức hàng năm nay đã đến lần thứ 20! Nhớ mãi, nhớ mãi trường cũ cấp ba công viên Anh Đào… Từ khi nghe tin các bạn ngã xuống trên chiến trường, tôi mới biết nỗi đau mất mát sẽ không bao giờ hết được. Mọi thứ đã thay đổi… riêng tôi nỗi buồn vẫn còn”.
Một người đàn ông vốn là lính của Sư đoàn Không vận 101 để lại một bức thư và bức ảnh một người lính Bắc Việt Nam chụp với đứa con gái của anh ta. Bức thư viết:
“Kính thưa ông,
Đã 20 năm nay tôi vẫn giữ bức hình này của ông trong ví của tôi. Hồi đó tôi mới mười tám tuổi, hôm ấy ông và tôi bất ngờ đụng nhau trên lối mòn đó gần Chu Lai, Việt Nam. Tại sao lúc ấy ông lại không bắn tôi ngay khi thoạt nhìn thấy tôi, cho đến nay và chắc rằng sẽ không bao giờ tôi có thể biết. Ông cứ nhìn chăm chăm vào tôi rất lâu, trong tay ông nắm chắc chiếc AK-47 nhưng ông lại không bắn.
Hãy tha thứ cho tôi đã lấy đi mạng sống của ông, lúc ấy tôi chỉ biết phản ứng theo cách tôi đã được huấn luyện giết V.C…
Đã không biết bao nhiêu lần trong những năm qua tôi nhìn kĩ vào tấm hình của ông chụp với con gái ông.
Mỗi lần như thế, ruột gan tôi lại cháy lên nỗi đau tội lỗi.
Bây giờ tôi cũng đã có hai đứa con gái…
Tôi biết ông là một người lính dũng cảm bảo vệ đất nước mình. Trên hết tất cả, bây giờ tôi có thể hiểu được ý nghĩa cuộc đời của ông.
Bởi thế, hôm nay tôi mới đến đây…
Để tôi có thể tiếp tục được sống và được giải thoát nỗi đau tội lỗi.
Xin ông hãy tha thứ cho tôi, thưa ông”.
*
* *
Một người đàn ông để lại một đồng xu, một chiếc nhẫn và mảnh giấy có những lời: “Tôi đã biết thế nào là sợ hãi. Tôi chỉ muốn được cô đơn-Đừng bao giờ gần ai-Tôi đã từng được học làm thú vật cứ cướp lấy cái gì mình muốn, khi nào mình muốn. Tôi đã học giết người-không-người ta đã dạy cho tôi rằng giết người là đúng… Rồi tôi đã trở về với gia đình, nhưng mọi thứ đều không yên ổn-Gia đình tôi chẳng muốn có tôi-hồi tôi mới về, họ sợ hãi tôi-và bây giờ cũng thế-Họ vẫn còn sợ tôi. Tôi cũng sợ chính tôi. Hôm nay đến đây, tôi cầu khấn các bạn tha thứ cho tôi, tha thứ cho đời tôi, cho những điều dối trá tôi đã học được”. Mảnh giấy có ghi thêm một lời cuối cùng: “Mong sao chóng hết nỗi đau”…
*
* *
Họ đến đây trong lòng chất chứa bao điều nặng trĩu và họ muốn thổ lộ ở Bức tường này. Họ đến đây mang trong đầu những từ điên khùng, tuyệt vọng và để lại những từ đó ở Bức tường. Những lời đó và những vật đó bộc lộ từ những trái tim còn mang thương tích của những nỗi đau mất mát. Có một chiếc đồng hồ ngừng chạy lúc 10 giờ 30 phút, kèm theo một lá thư gửi người đồng đội đã chết: “Khi mình ôm cậu trong hai cánh tay mình, người cậu đã lạnh rồi. Mình vẫn không muốn để anh em đưa cậu đi khỏi vòng tay mình, mình cứ muốn ôm mãi cậu chừng nào còn có thể được. Thế là cậu ra đi mãi mãi”…
… Một bà mẹ gửi cho con trai ở Việt Nam một bức thư đề ngày 23-9-1970: “An, con trai thân yêu của mẹ. Con biết không, mỗi lần nghe tin trên TV hay trên đài phát thanh, cả nhà lại lo lắng không biết con có ở trong số những máy bay bị bắn hạ hay không”. Ít lâu sau bà nhận được bức thư trả lại người gửi, thư không có người nhận. Ngày 20-9 con trai bà đã tử trận do chiếc trực thăng của cậu ấy đã bị bắn rơi. Mấy chục năm rồi kể từ ngày đó, bà ấy vẫn cứ ám ảnh vì những lời trong thư giống như một điềm gở đau thương. Rồi một ngày nào đó, bà đã trao cho người cháu họ đem bức thư tới đặt ở bức tường với dòng ghi thêm: “Cả nhà ta cứ tin con cũng sẽ được đọc bức thư này”.
… Một người nào đó mang đến một tờ giấy lâu ngày đã hoen ố và hằn nhiều nếp gấp, một bản danh sách quân số chiến đấu hằng ngày của đại đội A. Phần lớn họ tên được đánh máy bằng chữ in hoa. Một số tên-tên những người mới được bổ sung vào “quân số chiến đấu”-viết tay, nét chữ run run, đề ngày 6-5-1966, được tăng cường cho đại đội A trước khi vào trận đánh. Khi trận đánh kết thúc, từng họ tên ghi kề nhau được khoanh tròn, kèm theo dòng chữ KIA (killed in action) tử trận hoặc WIA (Wounded in action) bị thương trong chiến đấu. Người giữ tờ giấy này trong 24 năm rồi đem tới Bức tường, để lại đó, ghi thêm vào dưới bảng danh sách một dòng: “Cầu cho vong linh các bạn an nghỉ chốn vĩnh hằng”…
*
* *
… Khi tiến hành xây dựng Bức tường, chẳng có ai nghĩ nó sẽ trở thành một địa danh được viếng thăm nhiều nhất trên cả nước. Cũng không ai nghĩ nó sẽ trở thành một địa danh để hành hương hoặc sẽ là một ngôi đền khắc ghi những dòng thương nhớ hoặc lưu giữ những kỉ vật di tích lịch sử. Bức tường tưởng niệm cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam được xây dựng không phải để tưởng nhớ cuộc chiến tranh Việt Nam mà là để tưởng niệm những người đàn ông, những người đàn bà đã chết trong cuộc chiến tranh đó. Ý tưởng về việc xây dựng công trình tưởng niệm đó là của I-an Scơ-rốc, một thanh niên tham gia cuộc chiến tranh, vào lính bộ binh, trở về là một thương binh. Anh muốn đồng đội cựu chiến binh của anh sẽ có “một nơi để gặp lại, hay có thể là để làm dịu đi những dằn vặt, với những hồn ma trong quá khứ của họ”. Anh dự kiến, nơi đó sẽ là một đài tưởng niệm có ghi tên tất cả những ai đã chết trong cuộc chiến tranh dài nhất và là cuộc chiến tranh gây nên nỗi đau giằng xé xót xa nhất của nước Mỹ. Anh ấy thề: “Chúng tôi sẽ không nhận một đồng nào của chính phủ. Tiền xây tượng đài sẽ do người dân Mỹ đóng góp”. Nghe nói vậy, một diễn viên hài đã chế diễu anh trong một chương trình truyền hình sau khi anh mới quyên góp được 144,50 đô-la sau đợt đầu vận động gây quỹ. Nhưng Scơ-rốc vẫn miệt mài làm việc, cùng với nhiều bạn bè để lập quỹ Đài tưởng niệm chiến binh chiến tranh Việt Nam phi lợi nhuận. Rốt cục, đã có hơn 650.000 người tham gia đóng góp được trên 5 triệu đô-la và Quốc hội quyết định cấp cho họ một khu đất rộng trên 4.000m2 ở gần tượng đài Lin-côn để thực hiện công trình.
 |
| Những kỉ vật bên bức tường. Ảnh: Nguyễn Quang Vinh. |
Nhóm cựu chiến binh ấy phát động một cuộc thi vẽ hình mẫu tượng đài, nêu rõ hình mẫu phải đáp ứng được ba yêu cầu: Tượng đài phải ghi được đủ tên những người đã chết, mất tích; không có một câu chữ nào mang nội dung chính trị; phải hài hòa với cảnh quan vị trí. Cô sinh viên Mai-a Dinh Lin, 20 tuổi của Trường Đại học Yeo-lơ đã thắng cuộc thi với mô hình tượng đài là chữ V bằng đá gra-nit màu đen vươn lên từ mặt đất, mặt đá trơn bóng có thể phản chiếu được gương mặt của người đang sống khi nhìn vào bức tường sẽ hòa lẫn với những dòng tên của người đã chết khắc trên mặt đá. Cô ấy kể lại ý tưởng của mình khi chuẩn bị biểu tượng: “Tôi cảm thấy phải diễn tả được một sự thôi thúc mãnh liệt muốn xé toang mặt đất, tôi muốn tượng đài phải thế hiện một đòn giáng ác liệt mà chỉ có thời gian mới hàn gắn được”. Có ý kiến phản bác cho rằng mô hình cô sáng tác là biểu tượng một vết thương nhức nhối nhục nhã, một tấm bia mộ khắc ghi chết chóc và bại trận. Để dung hòa với những nhà phê bình nệ cổ, người ta dựng thêm một cột cờ và đặt gần đó một tượng đài ba người lính trẻ đúc bằng đồng đang nhìn xuống Bức tường như đang tìm tên mình trong đó…
TÔ.MÁT B.AN-LEN
Quang Doãn trích dịch