Trong căn nhà nhỏ ở đường Đỗ Thúc Tịnh (phường Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng), người phụ nữ đã luống tuổi như trẻ lại khi nhớ lại quãng đời tuổi trẻ oanh liệt của mình. Trong ánh mắt đã có phần mờ đục do dấu vết của thời gian và những trận đòn roi của giặc Mỹ vẫn ánh lên những tia sáng lấp lánh. Bà Đoàn Thị Thanh Thùy bồi hồi nhớ lại: “Năm 1958, dù mới tròn 5 tuổi, tôi vẫn nhớ như in căn nhà mái lá nhưng có đến... 9 công sự để nuôi giấu cán bộ của gia đình ở thôn Quang Châu, xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang. Ba tôi, ông Đoàn Duật phụ trách tài chính của Mặt trận Quảng Đà, còn mẹ tôi là Nguyễn Thị Ít, là một cơ sở của cách mạng”.
Cô bé Đoàn Thị Thanh Thùy khi ấy đã được nuôi dưỡng ngọn lửa của tình yêu nước và ý chí của người cách mạng. Thế nên dù nhỏ tuổi, Thanh Thùy vẫn có thể phụ mẹ những việc vặt cũng như tha thẩn chơi ở đầu ngõ để cảnh giới tình hình, kịp thời thông báo cho người lớn những dấu hiệu khả nghi. Và vẫn đủ bản lĩnh để đón nhận tin dữ cha hy sinh khi đi làm nhiệm vụ gần như cùng lúc với việc mẹ bị giặc bắt. “Ba bị giặc bắn lén khi đang đi vận động ủng hộ cách mạng, mẹ thì bị giặc bắt do có kẻ chỉ điểm là cơ sở cách mạng. Khi biết không còn ba mẹ ở cạnh nữa, tôi khăn gói lên Cẩm Lệ, cách nhà cũ khoảng 5km ở với người cô ruột”, bà Đoàn Thị Thanh Thùy kể.
    |
 |
Bà Đoàn Thị Thanh Thùy giới thiệu về những thành tích trong quá trình công tác và hoạt động cách mạng. Ảnh: THỦY TIÊN
|
Như cái cây nhỏ mà vững vàng vượt qua mọi bão tố, Thanh Thùy được sự chăm sóc của người cô mà vượt qua sự thiếu vắng hơi ấm của cha mẹ. Năm 1964, 11 tuổi, theo sự dìu dắt của một cán bộ nằm vùng, Thanh Thùy cùng 3 người bạn nữa được đưa lên chiến khu. Ngay từ ngày ấy, Thanh Thùy đã nhận rõ con đường của mình chính là đi theo cách mạng, trả thù cho cha mẹ. Lên núi ở với các chú, được học tập chính trị và huấn luyện để làm công tác binh vận, Thanh Thùy cũng như các bạn đều háo hức với vai trò mới của mình. Chỉ một thời gian, khi đã thuần thục các kỹ năng, cô và đồng đội được đưa vào vùng tạm chiếm hoạt động trong lòng địch.
Nhiệm vụ của Thanh Thùy khi ấy là đi vào các gia đình có con bị bắt đi lính để vận động hoặc rải truyền đơn, tuyên truyền đường lối, chính sách của cách mạng. Bà Thanh Thùy nhớ lại: “Chúng tôi được đưa xuống nhà dân, những cơ sở của ta, khi thì ở trong các công sự, khi ở dưới hầm trong vườn nhà, được cơ sở nấu cơm cho ăn, tối đến mới đi làm công tác binh vận. Chúng tôi đã được quán triệt rõ nguyên tắc “không biết, không thấy, không hay” khi đối mặt với các tình huống của người làm cách mạng”.
Ngày 20-11-1968, Thanh Thùy bị giặc bắt trong một lần đang đi thực hiện nhiệm vụ. Cô bé 15 tuổi nhỏ bé mà gan dạ đã kiên quyết không hé răng bất cứ một lời nào dù bị giặc tra tấn, hành hạ dã man. Không lấy được thông tin nào vì Thanh Thùy chỉ một mực nói mình không biết gì, chỉ đang đi thả lưới bắt cá phụ giúp gia đình, tức tối, giặc túm tóc treo ngược cô gái nhỏ lên mà đánh đập không thương tiếc. Chúng đổ nước xà phòng vào miệng, bỏ vào thùng phuy rồi dùng gậy sắt gõ bên ngoài. Thế nhưng, mọi hình thức tra tấn của chúng đều không làm lung lạc được ý chí của cô. Chúng đưa cô ra Nhà lao Hội An biệt giam.
Năm 1973, sau khi Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, Đoàn Thị Thanh Thùy mới được trả tự do. Bà về công tác tại Ban Binh vận, Mặt trận Quảng Đà. Say sưa công tác, khi xông xáo trên chiến trường làm nhiệm vụ cứu thương, khi là giao liên dẫn đường cho bộ đội. Trong một lần dẫn đường cho bộ đội đánh chiếm Cẩm Lệ, bà bị thương vì một viên đạn bắn vào bụng. Bà ra Bắc dưỡng thương rồi được cử đi học.
Sau khi miền Nam được giải phóng, bà trở lại Đà Nẵng công tác. Vẫn tác phong nhanh nhẹn, hoạt bát ngày trẻ, bà có nhiều năm gắn bó với công tác Đoàn và phong trào thanh niên. Sau đó, bà chuyển ngành sang công tác tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đến khi về hưu. Nhớ lại những năm tháng hoạt động trong lòng địch, bà khẳng định: “Đó là những ngày tháng gian lao nhưng vô cùng ý nghĩa trong cuộc đời tôi. Ở đó, tôi đã làm tròn nhiệm vụ và lời hứa của mình với cấp trên, đồng chí, đồng đội, cũng như không phụ sự kỳ vọng và cống hiến của ba mẹ tôi với quê hương, đất nước”.
KHÁNH AN