Ông bảo, mình thuộc tuýp người “sống chậm” và hoài niệm. Có lẽ vì thế nên những gì đã hằn sâu trong ký ức, ông thường nhớ rất lâu và rất sâu. Ký ức về Nam Bộ kháng chiến cùng chiếc nôi cách mạng của gia đình là những dấu ấn quan trọng đặc biệt, tác động sâu sắc đến tư tưởng, thiên hướng cuộc đời ông…

leftcenterrightdel
Nhà nghiên cứu An Chi. Ảnh: TÙNG SƠN 
TRONG DÒNG VĂN HÓA KHÁNG CHIẾN

Phóng viên (PV): Thưa học giả An Chi! Giai đoạn nổ ra Nam Bộ kháng chiến, ông ở đâu, làm gì ạ?

Nhà nghiên cứu An Chi: Tôi sinh năm 1935 tại Sài Gòn. Khi nổ ra sự kiện Nam Bộ kháng chiến, dù mới là cậu bé 10 tuổi, nhưng những gì được chứng kiến lúc bấy giờ tôi vẫn nhớ như in. Sau khi Nhật đầu hàng đồng minh, đứng từ nhà ngoại ở Bình Thạnh, tôi chứng kiến quân Anh, Ấn nhảy dù đổ quân xuống Tân Sơn Nhất, giải giáp quân đội Nhật, hỗ trợ quân Pháp tái chiếm Sài Gòn - Chợ Lớn. Người Sài Gòn lúc bấy giờ gọi quân Anh, Ấn là “Cha chóp”, vì trên đầu tụi nó đội cái chóp.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Ủy ban Nam Bộ kháng chiến, gia đình bên nội tôi có ông chú tham gia chiến đấu. Ông cùng những người bạn của mình lao ra cầu Bông, ngăn chặn giặc tiến về Gò Vấp. Họ mang theo giáo mác, tầm vông vạt nhọn với khí thế chiến đấu như nước vỡ bờ. Hình ảnh những cô, chú, anh, chị lực lượng Thanh niên tiền phong tay cầm gậy tầm vông vạt nhọn, chĩa đầu nhọn lên trên khi đứng xếp hàng trong đội ngũ nhận chỉ thị tấn công giặc bảo vệ Sài Gòn - Chợ Lớn những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến, in đậm trong tâm trí tôi. Tinh thần Nam Bộ kháng chiến và chiếc nôi gia đình cách mạng đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng của người thiếu niên trong tôi lúc bấy giờ…

PV: Sự ảnh hưởng ấy như thế nào, thưa ông?

Nhà nghiên cứu An Chi: Gia đình bên ngoại tôi là cơ sở cách mạng, có cậu là Võ Trọng Quản và dượng là Nguyễn Văn Nghi tham gia kháng chiến từ rất sớm. Dượng Nguyễn Văn Nghi là người khá thân cận với tướng Nguyễn Bình, Khu trưởng Khu 7 Nam Bộ. Gia đình bên ngoại tôi buôn bán ở Chợ Lớn, xây dựng nơi đây thành cơ sở của cách mạng. Trước đây, Sài Gòn và Chợ Lớn là hai thành phố riêng biệt, về sau mới sáp nhập nên gọi là Sài Gòn - Chợ Lớn. Trong những năm kháng chiến, Chợ Lớn là khu vực khá an toàn, vì quân Pháp cho rằng Việt Minh không có mặt ở khu vực người Hoa sinh sống nên các hoạt động truy lùng, bố ráp ít diễn ra ở đây. Nhờ đó, nhiều cán bộ ở chiến khu về Sài Gòn hoạt động thường chọn khu vực này làm nơi trú ẩn, xây dựng cơ sở cách mạng. Mỗi khi bị địch truy quét gắt gao, dượng và cậu tôi cũng thường ra Chợ Lớn lánh nạn. Ông Mười Cúc (đồng chí Nguyễn Văn Linh), Bí thư Đặc khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn và ông Năm Thành (Đào Tấn Xuân), Đặc khu Ủy viên, quyền Tư lệnh kiêm Chính ủy Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, là những người được thím Hai tôi ở Bình Thạnh nuôi giấu, che chở trong nhiều năm. Nhiều lần tôi được gặp và ngồi ăn cơm chung với hai ông. Hồi đó, tôi được gia đình cho đi học ở trường Tây, nhưng tôi rất ghét Tây. Mấy người bạn rủ tôi đi học nhảy, tôi phản ứng dữ lắm. Tôi mê người của chiến khu. Năm 15 tuổi, tôi nằng nặc đòi gia đình may đồ bà ba đen để đi theo các chú, các anh vô chiến khu tham gia kháng chiến, nhưng các cậu tôi không đồng ý. Các cậu bảo tôi, lo học cho thành tài rồi muốn đi thì đi…

PV: Rất nhiều thanh niên trí thức Sài Gòn - Chợ Lớn lúc bấy giờ, mặc dù đi học trường Tây từ nhỏ nhưng họ sẵn sàng bỏ bút nghiên lên đường tham gia kháng chiến. Dòng chảy của văn hóa, tinh thần kháng chiến đã thấm vào người dân Nam Bộ như thế nào, thưa ông?

Nhà nghiên cứu An Chi: Hiện thực kháng chiến hình thành nên dòng văn hóa kháng chiến. Dòng văn hóa ấy thôi thúc, cổ vũ tinh thần kháng chiến của toàn dân, góp phần làm nên sức mạnh kháng chiến. Về văn học, những năm đầu kháng chiến, ở miền Nam có nhóm văn nghệ tiêu biểu “Chân trời mới”, tập hợp những văn nghệ sĩ, trí thức yêu nước với bộ ba tác giả chủ chốt: Thiên Giang, Thê Húc, Tam Ích. Với nghệ thuật tả chân xã hội theo quan điểm sứ mệnh của nhà văn phải gắn liền với sứ mệnh đấu tranh của dân tộc, hoạt động của nhóm đã gây được tiếng vang trên văn đàn Nam Bộ, có ảnh hưởng sâu sắc đến các giới độc giả. Tác phẩm của họ phong phú, đề cập nhiều lĩnh vực: Văn học, lịch sử, giáo dục… với nhiều thể loại: Hồi ký, truyện ngắn, tiểu thuyết, dịch, biên khảo… Hồi đó, tầng lớp thanh, thiếu niên như chúng tôi rất hâm mộ các tác giả trong nhóm “Chân trời mới”, trong đó có nhà văn Thiên Giang (Trần Kim Bảng) sống trong cái xóm nhỏ phía sau rạp Đại Đồng. Tôi thường đến chơi với ông, lân la hỏi chuyện để học hỏi và đọc được nhiều tác phẩm của ông.

Tinh thần kháng chiến cũng được thể hiện phong phú trong đời sống nghệ thuật lúc bấy giờ. Bài hát “Nam Bộ kháng chiến” của ông Tạ Thanh Sơn như lời hiệu triệu, thúc giục toàn dân đi theo “tiếng kêu sơn hà nguy biến”. Đến bây giờ, mỗi lần nghe ca khúc này, chúng tôi vẫn thấy rạo rực. Người Sài Gòn rất thích nghe hát, xem phim. Hệ thống rạp hát, xi-nê ở Sài Gòn - Chợ Lớn lúc bấy giờ đa số là của tư nhân. Họ tổ chức diễn những chương trình, sáng tác, biểu diễn những bản đờn ca tài tử, cải lương kích thích tinh thần yêu nước, chiếu những bộ phim tiến bộ, đề cao tinh thần dân tộc. Giai đoạn 1948-1950, ở Sài Gòn - Chợ Lớn có 2 tờ báo có tư tưởng ủng hộ kháng chiến là “Việt báo” và “Thế giới”. Tờ “Thế giới” trên trang 2 chuyên in thơ ủng hộ kháng chiến. Tôi nhớ trên một số báo “Việt báo”, ngay trang nhất in ảnh ông Phạm Huy Thông, một nhà yêu nước có tiếng…

Khi tập thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu ra đời, rất nhiều trí thức ở miền Nam háo hức đón đọc. Ông Tạ Thanh Sơn được một người bạn trong Ủy ban Kháng chiến tặng một cuốn. Biết tin, tôi đến gặp ông mượn cho bằng được, đem về chép lại nội dung, phổ biến cho mọi người cùng đọc.

Có thể nói, cùng với những bước chuyển mình quan trọng của đời sống văn hóa tinh thần của cả nước, dòng văn hóa kháng chiến ở Nam Bộ đã có tác động sâu sắc, toàn diện đến các tầng lớp nhân dân, thôi thúc, cổ vũ, đồng hành cùng cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ, gian khổ của cả dân tộc…

leftcenterrightdel

Quân dân Sài Gòn lập phòng tuyến chiến đấu chặn địch ở cầu Bình Triệu, đầu tháng 10-1945. Ảnh tư liệu

 

BỒI ĐẮP TINH THẦN YÊU NƯỚC, NHÂN VĂN

PV: Dưới góc nhìn của một nhà nghiên cứu, theo ông đâu là những giá trị cốt lõi của văn hóa kháng chiến?

Nhà nghiên cứu An Chi: Văn hóa kháng chiến là một phạm trù rất rộng lớn, là nền tảng văn hóa tinh thần cho thế hệ hôm nay và mai sau. Sử sách cũng đã đúc kết những giá trị đặc biệt to lớn của kháng chiến và văn hóa kháng chiến. Để nói một cách ngắn gọn và cô đọng nhất, theo tôi, đó chính là yêu nước và nhân văn. Đó cũng chính là những giá trị cốt lõi góp phần làm nên bản sắc của văn hóa dân tộc.   

PV: Dòng chảy của văn hóa kháng chiến có ảnh hưởng, tác động như thế nào trong cuộc sống hôm nay?

Nhà nghiên cứu An Chi: Đất nước ta đã có những bước phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ. Là người con của Sài Gòn, nhưng bản thân tôi cũng không thể tưởng tượng được sự thay đổi diễn ra nhanh chóng và toàn diện như vậy. Tuy nhiên, văn hóa kháng chiến, những giá trị tinh thần to lớn của Nam Bộ kháng chiến thì vẫn là dòng chảy không ngừng. Nó đã, đang và còn tiếp tục ảnh hưởng, tác động sâu sắc đến xã hội hiện đại. Các tác phẩm văn học nghệ thuật trong kháng chiến luôn có sức sống mãnh liệt, lâu bền trong đời sống xã hội, chi phối thiên hướng sáng tạo của nhiều văn nghệ sĩ thế hệ sau. Tôi nghĩ, đó chính là nền tảng để tinh thần yêu nước, nhân văn luôn được bồi đắp, phát triển…

PV: Là người con của đất Sài Gòn, gắn bó gần trọn cuộc đời với thành phố quê hương, ông suy nghĩ gì về sự đổi thay của Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay?

Nhà nghiên cứu An Chi: Tôi là “ông già xưa”, trải qua bao thăng trầm, biến cố, vẫn sinh sống tại chính căn nhà, mảnh vườn do ông bà để lại. Đó là một góc không gian hoài niệm. Như các bạn thấy, ở đây rất tĩnh lặng. Mấy đứa cháu của tôi đến chơi, được nửa ngày là tụi nó đòi về vì “nhà ông buồn quá”. Nhưng đây lại là không gian rất phù hợp với công việc nghiên cứu và phong cách sống của tôi. Có thể nói, tôi thuộc tuýp người mà như các bạn trẻ bây giờ hay nói, đó là “sống chậm”. Sài Gòn của tôi ngày xưa êm đềm, yên tĩnh chứ không ồn ào, chật chội, náo nhiệt, đông đúc… như bây giờ. Tuy nhiên, tôi thực sự rất vui vì sự phát triển của thành phố. Đất nước ta đang hội nhập, phải có những bước đột phá mạnh mẽ thì mới đưa thành phố vượt lên sánh ngang với khu vực và thế giới. Cái mà chúng ta hoài niệm là để bồi đắp cho đời sống văn hóa tinh thần của mình. Phải trân trọng, gìn giữ truyền thống thì sự phát triển mới bền vững. Những giá trị vật chất có thể phải thay đổi, thay thế, nhưng những giá trị văn hóa tinh thần cốt lõi là tinh thần yêu nước, đoàn kết, nhân văn, nghĩa khí của con người Nam Bộ thì phải luôn gìn giữ, bồi đắp…

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

PHAN TRẦN (thực hiện)