QĐND - Cựu chiến binh Mỹ từng tham gia chiến tranh tại Việt Nam có nhiều gương mặt đáng nhớ trên văn đàn. Họ được đánh giá là có nhiều đóng góp cho “tủ sách” trong và ngoài nước về văn học kinh điển chiến tranh phương Tây. Dưới đây là đánh giá của một số cây bút cựu chiến binh Mỹ về đối thủ của một thời chiến đã khiến họ giã từ vũ khí và cầm bút. 

Thế trận xuất kỳ

Tôm Ca-hớt (Tom Carhart), sĩ quan tốt nghiệp Trường Oét Pô-in-tơ (West Point) danh tiếng năm 1967, sang tham chiến tại Sư đoàn không vận 101, rồi làm cố vấn Mỹ tại Gò Công... Là tác giả sách Vật hiến tế, Ca-hớt có quan sát kỹ hơn về huấn luyện của “Việt Cộng”. Ca-hớt cho rằng, bộ đội “Việt Cộng” ở vùng châu thổ Mê Công có động cơ chiến đấu mạnh mẽ trên tình cảm với “quê cha đất tổ”, thường không được huấn luyện các chiến thuật chiến tranh quy ước, nhưng được rèn luyện tốt về chính trị và được khuyến khích phát huy truyền thống kháng chiến của Việt Nam (cách đánh biến hóa, hay mai phục, dựa vào sức dân…).

Một số sách xuất bản ở phương Tây về đề tài chiến tranh ở Việt Nam.

Từng trải qua nhiều cương vị trên chiến trường Việt Nam, Tôm Ca-hớt viết về các trải nghiệm chiến trường, về thân phận lính Mỹ trong cuốn sách nổi tiếng trên, với ẩn dụ qua tên gọi của sách. Bình sách này, Tuần báo Mỹ Những người xuất bản (Publishers Weekly) cho rằng đã nêu lên tính chất vô nghĩa (futility) của cuộc chiến, nơi những người lính Mỹ bị ném vào giữa rừng nhiệt đới khủng khiếp, nơi các cấp trên của quân Mỹ ra những mệnh lệnh xa rời thực tế chiến trường, nơi Ca-hớt chỉ ra một cách đánh của Mỹ gây thương vong, thì lập tức bị xem là “kẻ nhát gan”… Tạp chí Thư viện (Library Journal) bình rằng, dù chỉ tham chiến khoảng một năm, bằng lối viết tự nhiên, nhưng đầy kịch tính, đến mức gay gắt, Ca-hớt đã soi tỏ khía cạnh chính trị ẩn trong cuộc xung đột. Cũng có những trang ủy mị một cách u sầu, nhưng theo Tạp chí Thư viện, Ca-hớt chưa đi xa được đến mức chỉ ra “hiến tế” (sacrifices-những hy sinh của lính Mỹ) là vô ích.

Hai mươi năm sau khi tham chiến, trả lời thư phỏng vấn của các bạn viết, cựu chiến binh Ca-hớt chia sẻ:

"Bộ đội Việt Nam là đối thủ đáng gờm… Các đơn vị Bắc Việt mà tôi từng đối diện đã hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu thật tuyệt vời tại các chiến trường Phan Thiết, Sông Bé, và gần thung lũng A Sầu, Vùng chiến thuật 1, năm 1968”…

Từ 1987-1989 cựu lính thủy đánh bộ Đa-vít Sơ-man (David Sherman) hút độc giả bằng loạt sách Người lính đánh đêm. Chuyên gia tiểu thuyết này còn có những sách khác chuyên về đề tài lính thủy đánh bộ Mỹ. Tham chiến năm 1966, Sơ-man cho rằng, đã gần như không thể tìm được cách giao chiến trực diện với “Việt Cộng”, rằng các chiến thuật chủ yếu của đối phương là “đánh rồi rút” nhưng gây hậu quả đáng sợ, làm mất tinh thần quân Mỹ.

Đối thủ thiện chiến nhất

Trả lời một thư phỏng vấn năm 1989 về đề tài bộ đội Việt Nam, lính biệt kích trở thành nhà văn Ken Min-lơ (Kenn Miller) khâm phục tinh thần chịu đựng gian khó-biểu hiện của tinh thần chiến đấu và kỷ luật cao của bộ đội Việt Nam. Min-lơ kể chuyện một cựu chiến binh Mỹ từng chiến đấu ở Đức trong thế chiến II, tham gia chiến tranh Triều Tiên, trước khi sang tham chiến ở Việt Nam. So với các đối thủ khác, cựu chiến binh từng 3 lần được huân chương này chỉ kính trọng người lính Việt Nam, một niềm kính trọng mà Min-lơ (tham chiến ở Việt Nam 1967-1968), cũng chia sẻ. Thuộc lực lượng trinh sát luồn sâu vào hậu phương của phe cách mạng thời kỳ 1967-1968, Min-lơ là tác giả của các sách: Sáu người lính trầm lặng và Biệt kích thọc sâu và con chó. Min-lơ cho rằng, Việt Nam chiến đấu với chiến lược rõ ràng, nhưng quân Mỹ thì không có chiến lược nào. Và, bộ đội Việt Nam về cơ bản, được trang bị vũ khí bộ binh ngang ngửa (về sức mạnh hỏa lực) so với bộ binh Mỹ, nhưng không lãng phí đạn dược như quân Mỹ.

Giêm-xơ Oép-bơ (James Webb) là sĩ quan tình báo kỳ cựu, từng chỉ huy đại đội thuộc Sư đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ 1 (1969-1970) ở khu vực gần Khu phi quân sự, thường đụng độ với các đơn vị Quân Giải phóng từ miền Bắc, mà phía Mỹ gọi là “quân Bắc Việt”. Sau chiến tranh, Giêm-xơ Oép-bơ là Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng, rồi Bộ trưởng Hải quân từ 1984 – 1988. Hiện ông là Thượng nghị sĩ của Đảng Dân chủ, bang Virginia. Giêm-xơ Oép-bơ là tác giả của một số sách được độc giả đánh giá cao về đề tài chiến tranh Việt Nam, sớm nhất có Những cánh đồng rực lửa. Cuốn này được người đọc xem là thuộc hàng kinh điển văn học Mỹ, có những trang với bút pháp thi vị, dù viết về chiến tranh.

Năm 1988, trả lời phỏng vấn của các nhà văn cựu chiến binh Mỹ, Oép-bơ nhận xét, bộ đội “Bắc Việt” có kỷ luật nghiêm và kỹ năng xạ kích tốt, xây dựng được những pháo đài tuyệt vời, những công sự, ụ súng gây kinh ngạc hết mức. Bộ đội Việt Nam thường sử dụng chiến thuật cận chiến để giảm bớt sức mạnh hỏa lực Mỹ. Điều này, theo Giêm-xơ Oép-bơ, “đòi hỏi (ở bộ đội Việt Nam) một kỷ luật hỏa lực vô cùng nghiêm cẩn, họ đã kiềm chế cho đến lúc chúng tôi (quân Mỹ) đến sát mới nổ súng. “Họ có khả năng tạo các cuộc mật phục rất hiệu quả, với lực lượng có quy mô, giữa ban ngày”, cạnh những cánh đồng lúa, để áp dụng cách đánh gần, theo Oép-bơ.

Giêm-xơ Oép-bơ cho biết, bộ đội “Bắc Việt” ở chiến trường này (Vùng chiến thuật I - Trị- Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi), từ 1968-1970, có trang bị vũ khí cộng đồng (crew- served-do một tổ sử dụng), tác chiến kiểu chiến tranh quy ước (hiệp đồng binh chủng). Oép-bơ cho hay, có những vùng như An Hòa, chỉ cách Đà Nẵng 30km, gần 100% dân chúng ủng hộ “Việt Cộng”. Bộ đội chủ lực Việt Nam giỏi cả các chiến thuật du kích. 25-30% thương vong của đơn vị của Oép-bơ là do bẫy mìn.

Bộ đội Bắc, bộ đội Nam

An-bớt Xan-tô-li (Albert Santoli) là tác giả của nhiều sách nổi tiếng về chiến tranh Việt Nam, như: Những gì chúng ta đã có: Lịch sử truyền khẩu về chiến tranh Việt Nam. Cuốn sách bao gồm ký ức chiến tranh Việt Nam của 33 cựu chiến binh Mỹ, theo lời bình trên trang mạng của Nhà sách Amazon, được xem là những ý kiến không bị chỉ đạo, không cố gắng “tô điểm” hoặc “hợp lý hóa” việc tham chiến ở Việt Nam của các cựu lính Mỹ này. Hiện ông là chuyên gia về châu Á, quan hệ quốc tế và an ninh của Mỹ, trên cương vị cố vấn cho các nghị sĩ chủ chốt của Quốc hội và các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ, cho nhiều tổ chức phi chính phủ. Sáng lập Tổ chức nhân đạo Sáng kiến Á Mỹ (Asia America Initiatives), Xan-tô-li có tiếng nói mạnh mẽ ở phương Tây trong chủ đề quyền con người, vấn đề nhập cư…

Tham chiến thời kỳ 1968-1969, Xan-tô-li cho rằng, Lộc Ninh là điển hình của một chiến trường vừa thích hợp với cách đánh của “Việt Cộng”, vừa thuận tiện cho tiếp tế, rút lui. Ông cũng đánh giá tình báo là một lợi thế về chiến lược của phe cách mạng và bộ đội “Bắc Việt” ngoan cường, nhưng gặp nhiều khó khăn hơn trong tác chiến ở Vùng chiến thuật III (xung quanh Sài Gòn). Bộ đội “Bắc Việt” thành công khi phục kích các đoàn xe của quân Mỹ, nhưng có lợi thế này mất đi khi chất độc da cam hủy diệt các cánh rừng cao su…

Một gương mặt nổi trội văn đàn nữa, xuất thân là sĩ quan tình báo già dặn, Xớt-giuých-cơ Tu-rít-xơn (Sedgwick Tourison), thâm niên chiến trường Đông Dương tới gần 8 năm. Các cuốn sách của ông về cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội được người đọc trên mạng Amazon chấm điểm gần 5/5. Cuốn được đánh giá 5 tròn là Đối thoại với Việt Cộng. Khác với phần lớn tướng lĩnh và cựu quân nhân Mỹ tham chiến ở Việt Nam, Tu-rít-xơn cho rằng, thói quen của Mỹ tách bộ đội cách mạng thành quân “Việt Cộng” và quân “Bắc Việt” là “sai lầm”. Về chiến lược, theo Tu-rít-xơn, nỗ lực của Mỹ chứng minh tính chính danh của “Việt Nam cộng hòa” và tính không chính danh của chính quyền “miền Bắc” đã bất thành. Thông điệp của Đảng về đấu tranh thống nhất Việt Nam đã được truyền đến đều khắp trên cả hai miền ngay từ đầu cuộc chiến tranh, và từ khi lục quân Mỹ vào tham chiến, các cuộc hành quân từ miền Bắc vào miền Nam là đông đảo, không thể “lay chuyển nổi”. Tiếp xúc nhiều với các chiến sĩ quân đội cách mạng cả từ miền Bắc và miền Nam, Tu-rít-xơn đã dùng chữ “quân đội giải phóng” thay cho “quân Việt Cộng”, "quân Bắc Việt”-chữ mà các tướng lĩnh Mỹ và cựu chiến binh Mỹ tham chiến ở Việt Nam với thời hạn ngắn hơn, hay dùng.

Các chiến sĩ Giải phóng mà Tu-rít-xơn thẩm vấn, ngay từ đầu chiến tranh cục bộ, đều cho rằng, thắng lợi của một Việt Nam kiên trì kháng chiến rồi sẽ đến. Bởi vì các yếu tố, từ sự thiếu thích nghi, nhất là về tâm lý của lính quân dịch Mỹ chỉ tham chiến một năm, đến những căng thẳng trong giao diện đối nội và đối ngoại do chính sách về Việt Nam của Oa-sinh-tơn… Chính những rạn nứt này cản đường tới các mục tiêu của cuộc chiến tranh của Mỹ. Tu-rít-xơn khái niệm “bại trận đã định trước” (guaranteed failurre) dẫn tác gia kinh điển về chiến lược quân sự Kơ-lau-zơ-vít (Clauswitz). Tu-rít-xơn dùng khái niệm (Mỹ) “bỏ cuộc” (default) để nói về giai đoạn sau Hiệp định Pa-ri, gợi lại dự báo của các chiến sĩ Giải phóng đầu chiến tranh cục bộ (từ 1965) nói trên…

LÊ ĐỖ HUY (dịch)