James H.Willbanks, nguyên thành viên của Hội đồng cố vấn Mỹ (ACG) ở miền Nam Việt Nam, sau này là Trưởng khoa Lịch sử Quân sự, Trường Đại học Chỉ huy và Tham mưu Hoa Kỳ, tác giả của nhiều cuốn sách viết về chiến tranh Việt Nam như: “Bỏ rơi Việt Nam” (Abandoning Vietnam), “Trận An Lộc” (The Battle of An Loc) và “Tổng tiến công Tết: Lịch sử tóm lược” (The Tet Offensive: A Concise History).

Trong cuốn sách nhan đề “Một cuộc tập kích quá tầm: Chiến dịch Lam Sơn 719 và Việt Nam hóa chiến tranh tại Lào” (A Raid Too Far: Operation Lam Son 719 and Vietnamization in Laos), Nhà xuất bản Đại học Texas A&M, 2014, James H.Willbanks cho rằng, trong bối cảnh chiến lược “chiến tranh cục bộ” thất bại, Tổng thống Nixon đề ra chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Lam Sơn 719 là phép thử quan trọng nhất xem quân ngụy Sài Gòn có đủ khả năng đối phó với Quân giải phóng hay không.

Tuy nhiên, thực tế chiến dịch cho thấy, quân ngụy Sài Gòn chỉ chiếm Sê Pôn được vài ngày, sau đó buộc phải rút lui trong hỗn loạn. Ông gọi đây là “hình ảnh đáng xấu hổ” nhất của Chiến dịch Lam Sơn 719: “Trong trận chiến tại Ranger North, một trong các căn cứ hỏa lực bảo vệ sườn phía Bắc, một số binh sĩ Sài Gòn không bị thương, nhưng do mất tinh thần chiến đấu đã cố leo lên các trực thăng vận chuyển thương binh nặng. Mặc dù phi công và nhân viên y tế đã cố gắng ngăn cản, nhưng những binh sĩ này vẫn rời bỏ trận địa, đào ngũ bằng cách bám vào càng trực thăng và bay ngược về Nam Việt Nam”.

Trong bài viết nhan đề “Chiến dịch Lam Sơn 719, Nam Việt Nam xâm nhập Lào, 1971” (Lam Son 719 South Vietnam Invades Laos, 1971), đăng trên trang web Historynet, ngày 13-4-2017, James H.Willbanks viết: “Mặc dù Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: Chiến dịch Lam Sơn 719 là “chiến thắng lớn nhất từ trước đến nay”, nhưng “thực tế, Lam Sơn 719 còn lâu mới có thể được gọi là một chiến thắng.

Một số đơn vị Việt Nam Cộng hòa có ý thức chấp hành kỷ luật chiến đấu tại Lào; một số khác thì không. Cái giá phải trả của cuộc chiến là rất lớn. Sài Gòn thông báo rằng, trong chiến dịch có 1.160 binh sĩ bị chết, 4.271 binh sĩ bị thương và 240 người mất tích. Tuy nhiên, các cơ quan truyền thông nghi ngờ con số này và cho rằng, thương vong thực tế của quân ngụy Sài Gòn lớn hơn nhiều, bao gồm: 3.800 người chết, 5.200 người bị thương và 775 người mất tích...

leftcenterrightdel

Bìa cuốn sách “A Raid Too Far: Operation Lam Son 719 and Vietnamization in Laos”.

Theo các số liệu chính thức của Quân đoàn 24, gần giống với số liệu do báo chí đưa ra, số lượng binh sĩ thương vong của quân đội Sài Gòn lên tới hơn 7.000 người, tức tỷ lệ thương vong gần 40%... Về trang bị, quân đội Sài Gòn mất 211 xe tải, 87 xe bọc thép, 54 xe tăng, 96 khẩu pháo, cùng phần lớn số trang bị công binh chiến đấu”. Trong khi đó, mặc dù không tham gia chiến đấu trực tiếp, thiệt hại của phía Mỹ cũng rất lớn: “Thương vong của quân đội Mỹ, tính chung cho cả Chiến dịch Lam Sơn 719 và Dewey Canyon II, có 253 người chết hoặc mất tích và 1.149 người bị thương. Tổn thất về trang bị của Mỹ gồm: 107 trực thăng bị phá hủy hoàn toàn, 601 chiếc bị hư hại (20% số này bị hỏng nặng đến mức được đánh giá là không thể bay trở lại), 6 máy bay tiêm kích bom, 1 máy bay chỉ huy tiền phương, 4 phi công bị chết hoặc mất tích”.

Trước thất bại của Chiến dịch Lam Sơn 719, Tổng thống Nixon đã quyết định quay trở lại chiến lược “Mỹ hóa” chiến tranh. Ngày 6-4-1972, không quân và hải quân Mỹ tiếp tục tiến hành các cuộc tiến công đường không vào miền Bắc Việt Nam; đồng thời, Mỹ tăng cường viện trợ cho quân ngụy Sài Gòn nhằm đối phó với cuộc tiến công của Quân giải phóng. Sau chiến dịch, lực lượng cách mạng miền Nam ngày càng lớn mạnh, củng cố, bố trí tại các khu vực chiến lược then chốt. Chiến thắng của Quân giải phóng trong Chiến dịch Đường 9-Nam Lào là một đòn giáng mạnh, góp phần buộc Mỹ phải quay lại bàn đàm phán và đi đến ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, ngày 27-1-1973.

Thất bại của Mỹ-ngụy trong Chiến dịch Lam Sơn 719 cũng là nhân tố tác động làm thay đổi cách nhìn nhận và sự đánh giá của phía bên kia về Quân giải phóng. James H.Willbanks viết: “Các đơn vị Quân đội Bắc Việt, với lực lượng thuộc 4 sư đoàn hiện diện trong khu vực hành quân, gia tăng mức độ tiến công vào các vị trí của quân đội Sài Gòn, tìm cách cô lập các căn cứ hỏa lực và tiêu diệt từng căn cứ một. Trong nỗ lực này, họ bao vây các vị trí của quân đội Sài Gòn bằng hệ thống hỏa lực phòng không để cắt đứt tuyến tiếp tế đường không; đồng thời, làm suy sụp tinh thần lực lượng phòng ngự bằng loạt đạn cối, rốc-két và đạn pháo suốt ngày đêm.

Sau các đợt pháo kích, họ mở các đợt xung phong vào vị trí của quân đội Sài Gòn, sử dụng lực lượng bộ binh, thiết giáp phối hợp. Để vô hiệu hóa các đợt ném bom bằng máy bay chiến lược B-52 của không quân Mỹ, bộ đội Bắc Việt đã thực hiện phương châm phân tán lực lượng, tránh tập trung trước thời điểm tiến công. Khi thực hành tiến công, bộ đội Bắc Việt sử dụng chiến thuật “ôm thắt lưng” quân đội Sài Gòn, áp sát đối phương càng gần càng tốt”.

Thất bại của Chiến dịch Lam Sơn 719 đã làm nước Mỹ rúng động. Trong cuốn sách nhan đề “Cuộc chiến dài nhất của nước Mỹ: Mỹ và Việt Nam, 1950-1975” (America’s Longest War: The United States and Vietnam, 1950-1975), Nhà xuất bản Alfred A.Knopf, 1985, George C.Herring, nhà sử học chuyên nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam và quan hệ quốc tế Mỹ, viết: “Sau Chiến dịch Lam Sơn 719, cố vấn Henry Kissinger rơi vào trạng thái hết sức bất an”. Ông cho rằng, tuyên bố của chính quyền Mỹ về việc Quân đội Bắc Việt “đã rút lui lực lượng” là hoàn toàn phi lý, trong khi hình ảnh những binh sĩ Sài Gòn tuyệt vọng bám vào càng trực thăng đã gây chấn động dư luận. Những diễn biến này đã làm dấy lên hàng loạt nghi vấn về mức độ thực chất của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Tổng thống Nixon.

Đánh giá về thất bại của Chiến dịch Lam Sơn 719, Gabriel Kolko, nhà sử học và nhà hoạt động chính trị người Mỹ, tác giả của nhiều cuốn sách lịch sử và chính trị, trong đó có cuốn “Giải phẫu một cuộc chiến tranh: Việt Nam, Mỹ và kinh nghiệm lịch sử hiện đại” (Anatomy of a war: Vietnam, the United States, and the modern historical experience), Nhà xuất bản New Press, 1994, nhận định rằng: “Chiến dịch Lam Sơn 719-trận đánh then chốt trong tiến trình Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ đã thất bại hoàn toàn”.

leftcenterrightdel
Bìa cuốn sách “America’s Longest War: The United States and Vietnam, 1950-1975”.

Robert Dallek, một nhà sử học người Mỹ, giảng viên Đại học Boston, Columbia, California (Mỹ) và Oxford (Anh), tác giả của nhiều cuốn sách, trong chương 4 nhan đề “Cuộc xâm lược Lào của Nixon: Chiến dịch Lam Sơn 719” (Nixon’s Invasion of Laos: Operation Lam Sơn 719), đăng trên trang San Diego City News and True History Stories, 2018, cho rằng, trong Chiến dịch Lam Sơn 719, lực lượng của Mỹ và quân ngụy Sài Gòn không chỉ bị áp đảo bởi lực lượng đối phương mà còn kém hơn về hỏa lực, kinh nghiệm tác chiến và tinh thần chiến đấu, không có khả năng thích ứng linh hoạt trong chiến trường khốc liệt như lực lượng Bắc Việt vốn đã dày dạn trận mạc.

John Walker, tác giả bài viết nhan đề “Bị tiến công tơi tả tại Lào” (Mauled in Laos), đăng trên trang Warfare History Network, tháng 5-2015, cho rằng: “Chiến dịch Lam Sơn 719, một cuộc đột kích thất bại của Quân đội Việt Nam Cộng hòa vào Lào trong tiến trình Việt Nam hóa chiến tranh, đã bộc lộ những khiếm khuyết nghiêm trọng về năng lực tác chiến của lực lượng này. Nếu không được không quân của Mỹ yểm trợ thì khó có thể ngăn chặn được thảm họa toàn diện xảy ra”.

Đại tá VŨ VĂN KHANH