Quá trình đi tìm lời giải cho câu hỏi: “Vì sao nước Mỹ hùng mạnh nhất thế giới về quân sự và kinh tế lại thất bại thảm hại ở Việt Nam?”, Robert McNamara, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ trong giai đoạn 1961-1968, người được coi là “kiến trúc sư trưởng”, tác giả của hàng rào điện tử McNamara tại vùng phi quân sự giữa hai miền Nam-Bắc Việt Nam trong chiến tranh Việt Nam, trong cuốn hồi ký “Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam” (In Retrospect: The Tragedy and Lessons of Vietnam), Nhà xuất bản Vintage Books, 1996, đã công khai thừa nhận: “Chính phủ Mỹ đã có những đánh giá sai lầm và rất thiếu hiểu biết về lịch sử, văn hóa, chính trị ở Việt Nam; vì thế đã đẩy nước Mỹ sa lầy trầm trọng vào cuộc chiến tranh phi nghĩa, với một kết cục tất yếu là thất bại thê thảm trong trận quyết chiến chiến lược mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử của quân và dân Việt Nam”.

Ông còn nêu ra 11 nguyên nhân gây ra thất bại nặng nề cho nước Mỹ trong cuộc chiến ở Việt Nam, trong đó có sai lầm đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc thúc đẩy một dân tộc đấu tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó. Ông cũng thẳng thắn chỉ ra những nguyên nhân và lý giải, xét cho cùng, thất bại cay đắng của nước Mỹ nảy sinh từ bản chất cuộc chiến tranh xâm lược, phi nghĩa của Mỹ; từ việc không nhận thức được sức mạnh truyền thống của dân tộc Việt Nam được nhân lên gấp nhiều lần dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Lao động Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam là đã không khuất phục được một dân tộc anh hùng.

leftcenterrightdel
 Bìa cuốn sách về chiến tranh Việt Nam của các tác giả nước ngoài.

Stanley Karnow, nhà sử học, là một trong số ít phóng viên Mỹ có mặt ở chiến trường miền Nam từ đầu đến khi quân và dân Việt Nam làm nên Đại thắng mùa Xuân  1975, trong cuốn sách “Việt Nam: Một thiên lịch sử” (Vietnam: A History), Nhà xuất bản The Washington Post Book World, 1983, đoạt Giải Pulitzer của báo chí Mỹ và có hơn một triệu bản được phát hành, đã viết: “Sai lầm xuất phát từ sự không hiểu biết gì về lịch sử Việt Nam, một lịch sử hàng nghìn năm đau thương, những cuộc chiến tranh và xung đột đã tạo cho người Việt Nam một ý thức sâu sắc về dân tộc họ. Cũng chính các cuộc chiến tranh, xung đột và những biến cố đã tạo ra một Đảng tiên phong bản lĩnh và trí tuệ, luôn biết đổi mới kịp thời vào những thời điểm quyết định với nỗ lực và kỳ vọng được đồng hành với đất nước”.

Karnow mô tả sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn như một “bi kịch mang tính lịch sử” đối với Hoa Kỳ. Ông cho rằng, chiến tranh Việt Nam là kết quả của chuỗi tính toán sai lầm kéo dài nhiều đời Tổng thống Mỹ vì đánh giá thấp tính chất dân tộc-cách mạng của cuộc xung đột và đánh giá quá cao khả năng xây dựng một chính quyền chống cộng ổn định tại Sài Gòn. Sự sụp đổ nhanh chóng của chính quyền Sài Gòn không chỉ do sức mạnh quân sự của miền Bắc mà còn do sự tan rã về tinh thần và niềm tin chính trị. Ông coi năm 1975 là bước ngoặt làm thay đổi sâu sắc đời sống chính trị nước Mỹ, làm sụp đổ thần tượng “bất khả chiến bại” của siêu cường này.

leftcenterrightdel
Bìa cuốn sách về chiến tranh Việt Nam của các tác giả nước ngoài. 

George C.Herring, một chuyên gia lịch sử quân sự và quan hệ quốc tế, trong cuốn: “Cuộc chiến dài nhất của nước Mỹ: Hoa Kỳ và Việt Nam, 1950-1975” (America’s Longest War: The United States and Vietnam, 1950-1975), Nhà xuất bản Knopf, New York, 1986, đã viết rằng: “Chiến tranh Việt Nam, vốn bắt đầu như một phần của chính sách “ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản, đã trở thành cuộc can thiệp tốn kém và kéo dài nhất trong lịch sử hiện đại của Hoa Kỳ”.

Ông nhấn mạnh: “Mỹ không bao giờ có được một chiến lược rõ ràng để giành chiến thắng toàn diện, mà thay vào đó là một chuỗi quyết định rút lui chiến thuật nhằm giữ thể diện chính trị trong nước và trên thế giới. Chiến tranh Việt Nam làm giảm uy tín và xói mòn đời sống chính trị tinh thần của nước Mỹ, cùng với những scandal chính trị như Watergate làm suy yếu sức mạnh chính sách đối ngoại của Mỹ. Cuộc chiến tranh ở Việt Nam là một thất bại rõ rệt, không chỉ về quân sự mà còn về chính sách, khiến nước Mỹ mất đi uy thế hình ảnh siêu cường “bất khả chiến bại” và để lại hậu quả lâu dài đối với chính sách đối ngoại và xã hội của nước này”.

Trong tác phẩm “Giải phẫu một cuộc chiến tranh: Việt Nam, Mỹ và kinh nghiệm lịch sử hiện đại” (Anatomy of a War: Vietnam, The United States, and the Modern Historical Experience), Nhà xuất bản The New Press, 1985, Giáo sư sử học, Tiến sĩ triết học Mỹ Gabriel Kolko đã chỉ ra nguyên nhân tạo nên sức mạnh đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến chống xâm lược, được khơi dậy từ đường lối quần chúng và sự động viên của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ông rút ra nhận xét: “Ngoài những chiều cạnh về thể chất và về quân sự rất đặc biệt của Việt Nam, kẻ thù đó của Mỹ còn có những vốn quý về chính trị và về tri thức rất nguy hiểm cho Mỹ, bởi vì phương pháp luận sáng tạo của cách mạng có thể áp dụng không phải chỉ ở Việt Nam mà còn ở khắp nơi khác nữa. Mỹ đã chọn nhầm một nước để thử lòng tin của mình”. Gabriel Kolko còn lý giải chiến thắng của quân dân Việt Nam trong cuộc đụng đầu lịch sử chống Mỹ xâm lược, ngoài tính chất ưu việt của chế độ xã hội chính trị được thể hiện qua việc tổ chức và tiến hành chiến tranh, huy động toàn dân, toàn lực để giành chiến thắng, còn một yếu tố cực kỳ quan trọng đó là những cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam luôn phát huy dân chủ, thân thiết đối với binh sĩ của mình như người cha, người anh, người bạn; họ quan hệ với nhau như anh em trong một gia đình. Điều này hoàn toàn trái ngược với quân đội nhà nghề Mỹ.

leftcenterrightdel

Bìa cuốn sách về chiến tranh Việt Nam của các tác giả nước ngoài. 

Trong cuốn sách: “Tàn lửa chiến tranh: Sự cáo chung của một đế chế và quá trình Hoa Kỳ dấn sâu vào Việt Nam” (Embers of War: The Fall of an Empire and the Making of America’s Vietnam), xuất bản năm 2012 (đoạt Giải Pulitzer), Logevall, nhà sử học người Mỹ gốc Thụy Điển thuộc Đại học Harvard (Mỹ) cho rằng: “Thất bại của Mỹ ở Việt Nam năm 1975 không phải là một biến cố bất ngờ, mà là kết quả của một chuỗi quyết định sai lầm kéo dài từ thời kỳ hậu chiến tranh thế giới thứ hai. Các nhà hoạch định chính sách Mỹ đã nhiều lần phớt lờ những cảnh báo về giới hạn sức mạnh của mình và đánh giá thấp động lực dân tộc chủ nghĩa của phong trào cách mạng Việt Nam”. Theo Logevall, sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn phản ánh sự mâu thuẫn giữa tham vọng toàn cầu của Mỹ và thực tế chính trị-xã hội tại Việt Nam. Ông coi sự kiện tháng 4-1975 là minh chứng điển hình cho giới hạn của quyền lực quân sự khi thiếu sự hiểu biết lịch sử và tính chính danh chính trị tại chỗ.

Mark Atwood Lawrence, Giáo sư sử học, Giáo sư danh dự về lịch sử và tư tưởng tại Đại học Texas, Austin, trong cuốn sách “Chiến tranh Việt Nam: Lịch sử quốc tế khái lược” (The Vietnam War: A Concise International History), Nhà xuất bản Oxford University Press, New York, 2008, coi sự kiện tháng 4-1975 như kết quả của một tiến trình quốc tế hóa sâu rộng. Ông nhấn mạnh: “Chiến tranh Việt Nam không chỉ là xung đột song phương mà là điểm giao thoa của cạnh tranh ý thức hệ toàn cầu, chính trị nội bộ Mỹ và động lực cách mạng trong khu vực. Sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn phản ánh sự mâu thuẫn giữa mục tiêu toàn cầu của Mỹ và thực tế xã hội Việt Nam”. Lawrence coi chiến thắng năm 1975 là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử quan hệ quốc tế hậu năm 1945, làm thay đổi cách Hoa Kỳ can thiệp vào các cuộc xung đột sau này.

Đại tá VŨ VĂN KHANH