Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 được coi là bước ngoặt quan trọng nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, không chỉ vì sự thay đổi cán cân quân sự trên chiến trường mà còn vì tác động tâm lý tinh thần sâu sắc đối với nước Mỹ. Đó là đòn giáng mạnh vào niềm tin, ý chí và nền tảng tinh thần vốn đang suy yếu trong xã hội Mỹ vào cuối những năm 1960. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 diễn ra đúng vào thời điểm chính quyền Johnson đang khẳng định “ánh sáng cuối đường hầm” đã xuất hiện, khiến sự bất ngờ mà cuộc tổng tiến công và nổi dậy này tạo ra trở thành một “cú sốc nhận thức” trên toàn nước Mỹ.

George C.Herring, giáo sư sử học tại Đại học Tổng hợp Kentucky, chuyên nghiên cứu lịch sử ngoại giao Mỹ và chiến tranh Việt Nam, trong cuốn sách nhan đề: “America’s Longest War: The United States and Vietnam, 1950-1975” (Cuộc chiến dài nhất của nước Mỹ: Mỹ và Việt Nam, 1950-1975), Nhà xuất bản Alfred A.Knopf, năm 1985, nhận xét rằng: “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã làm tan rã hoàn toàn uy tín của chính quyền Johnson trong việc đánh giá chiến tranh”, bởi công chúng Mỹ cảm thấy họ đã bị đánh lừa bởi những báo cáo quá mức lạc quan.

James H.Willbanks, nguyên thành viên của Hội đồng cố vấn Mỹ (ACG) ở miền Nam Việt Nam, sau này là Trưởng khoa Lịch sử Quân sự, Học viện Chỉ huy tham mưu Lục quân Mỹ, trong cuốn “The Tet Offensive: A Concise History” (Tổng tiến công Tết: Lịch sử tóm lược), Nhà xuất bản Columbia University Press, năm 2007, giải thích rằng: “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 không chỉ khiến tuyên bố chiến thắng của Washington trở nên rỗng tuếch mà còn phơi bày khoảng cách không đáng tin cậy giữa lời nói của Nhà Trắng và thực tế trên chiến trường. Khoảng cách ấy vốn âm ỉ từ năm 1966 đến 1967, nhưng chỉ đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 mới bùng phát thành một khủng hoảng niềm tin toàn diện”.

leftcenterrightdel
Bìa cuốn sách: Counsel to the President: A Memoir. Ảnh tư liệu 

Một số học giả khác tập trung vào tác động của truyền thông, đặc biệt là truyền hình, trong việc chuyển hóa ý nghĩa quân sự hạn chế của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 thành một cuộc khủng hoảng tâm lý quốc gia. Peter Braestrup trong tác phẩm “Big Story: How the American Press and Television Reported and Interpreted the Crisis of Tet 1968 in Vietnam and Washington” (Câu chuyện lớn: Báo chí và truyền hình Mỹ đưa tin và diễn giải cuộc khủng hoảng Tết 1968 tại Việt Nam và Washington như thế nào), Nhà xuất bản Westview Press, năm 1977, chỉ ra rằng truyền hình đã khiến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 trở thành “một cuộc khủng hoảng trực quan” đối với người dân Mỹ. Những hình ảnh đột kích vào tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, giao tranh ngay trong những khu dân cư và đặc biệt là cảnh đổ nát tại Huế khiến công chúng tin rằng Mỹ đang thua. Dù quy mô thật sự của các trận đánh đô thị nhỏ hơn nhiều so với ấn tượng tạo ra trên truyền hình, Peter Braestrup nhấn mạnh rằng báo chí đã làm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 trở thành “một biểu tượng của thất bại”, làm suy giảm mạnh mẽ tinh thần Mỹ. Hình ảnh trên truyền hình đã gây ra cú sốc tâm lý, làm dư luận Mỹ mất niềm tin vào khả năng chiến thắng.

Là một trong số rất ít nhà báo phương Tây chứng kiến từ đầu đến cuối cuộc chiến tranh Việt Nam, Stanley Karnow-nhà báo Mỹ kiêm sử gia về chiến tranh Việt Nam, người có mặt tại Sài Gòn từ năm 1959, đưa tin về chiến tranh Việt Nam cho Thời báo Time, Washington Post và các hãng tin khác, sau năm 1975, ông tiếp tục trở thành nhà sử học nghiên cứu về Việt Nam, trong cuốn “Vietnam: A History, The First Complete Account of Vietnam at War” (Việt Nam - Lịch sử: Bản tường thuật đầy đủ đầu tiên về cuộc chiến tranh Việt Nam), Nhà xuất bản Pimlico, năm 1994, khẳng định: “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đánh thẳng vào tâm trí nước Mỹ hơn là vào lực lượng quân sự Hoa Kỳ”. Stanley Karnow cho rằng cảm giác bị bất ngờ, một sự bất ngờ trái ngược hoàn toàn với những tuyên bố lạc quan của chính quyền, mới là nguyên nhân khiến người Mỹ mất niềm tin sâu sắc. Theo ông, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là thời điểm mà “người Mỹ bắt đầu nghi ngờ không chỉ chiến lược mà cả sự trung thực của ban lãnh đạo nước Mỹ”.

Don Oberdorfer, phóng viên chiến trường ở miền Nam Việt Nam, giáo sư kiêm nhà báo danh dự Trường Nghiên cứu quốc tế cao cấp Paul H.Nitze (SAIS), Đại học Johns Hopkins và là Chủ tịch sáng lập Viện Mỹ-Hàn, trong cuốn “Tet! The Turning Point in the Vietnam War” (Tết-Bước ngoặt trong chiến tranh Việt Nam), Baltimore: Johns Hopkins University Press, năm 2001, nhận định: “Không có một sự kiện nào khác trong toàn bộ cuộc chiến làm lung lay tinh thần lạc quan chính thức mạnh như Tết”. Ông mô tả sự thay đổi trong dư luận sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là “không thể đảo ngược”, bởi nó không chỉ liên quan đến phẫn nộ nhất thời mà còn chạm tới cảm giác thất vọng sâu xa về khả năng lãnh đạo của Washington. Theo phóng viên Don Oberdorfer, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 buộc người Mỹ phải đối diện với sự thật rằng, chiến tranh không hề tiến gần tới thắng lợi như họ từng được trấn an.

Thất bại của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 có tác động tâm lý mạnh mẽ đối với giới hoạch định chính sách Mỹ. Điển hình là Clark Clifford, người kế nhiệm McNamara làm Bộ trưởng Quốc phòng ngay sau sự kiện cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, trong cuốn “Counsel to the President: A Memoir” (Người cố vấn của Tổng thống: Hồi ký), Nhà xuất bản New York: Anchor Books, năm 1992, khẳng định: “Đòn giáng tâm lý từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là mang tính hủy diệt”. Clifford kể lại rằng chỉ vài ngày sau khi ông nhậm chức, ông đã có thể đưa ra kết luận rằng: “Không còn một cơ sở hợp lý nào để tin rằng Mỹ có thể đạt được chiến thắng quân sự”. Đây là sự thay đổi 180 độ so với lập trường trước đó của Lầu Năm Góc, cho thấy mức độ ảnh hưởng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 lên giới lãnh đạo chính trị-quân sự Mỹ lớn như thế nào.

Krepinevich, Andrew F, học giả, nhà phân tích chính sách quốc phòng và chiến lược quân sự Mỹ, nổi tiếng với các công trình nghiên cứu về chiến tranh hiện đại và chiến tranh Việt Nam, trong cuốn “The Army and Vietnam” (Quân đội và Việt Nam), Baltimore: Johns Hopkins University Press, năm 1986, lập luận rằng: “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 phơi bày sự phá sản của chiến lược tìm-diệt”. Nhưng điều quan trọng hơn, theo ông, là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 “phá tan ảo tưởng chiến thắng” của quân đội Mỹ. Tác động tâm lý này lan ra công chúng và giới chính trị, khiến Mỹ buộc phải thay đổi toàn bộ cách tiếp cận chiến tranh. Theo ông, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là thời điểm mà “lý thuyết chiến thắng” sụp đổ hoàn toàn.

leftcenterrightdel
 Bìa cuốn sách: America’s Longest War: The United States and Vietnam, 1950-1975. Ảnh tư liệu

William S.Turley, học giả, sử gia và chuyên gia nghiên cứu chính trị-quân sự, chiến tranh Việt Nam và Đông Nam Á, trong cuốn “The Second Indochina War: A Concise Political and Military History” (Cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai: Lịch sử chính trị và quân sự tóm lược), Nhà xuất bản Rowman & Littlefield Publisher Inc, UK, năm 2009, đánh giá: “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 thúc đẩy quá trình xói mòn ý chí của người Mỹ. Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, xã hội Mỹ “không còn sẵn sàng chấp nhận một cuộc chiến vô thời hạn” và sự chia rẽ trong lòng nước Mỹ trở nên sâu sắc hơn bao giờ hết. Điều này dẫn đến sự trỗi dậy mạnh mẽ của phong trào phản chiến và trực tiếp ảnh hưởng đến quyết định của Tổng thống Johnson không tái tranh cử vào tháng 3-1968, một bước ngoặt thể hiện sự “đổ vỡ tinh thần quốc gia”...

9 giờ ngày 31-3-1968, từ Phòng Bầu dục tại Nhà Trắng, trong bài diễn văn quan trọng được truyền hình trực tiếp không chỉ trên toàn nước Mỹ mà cả thế giới theo dõi, Johnson đã đề nghị Việt Nam ngồi vào bàn đàm phán với Mỹ. Đặc biệt, trong bài diễn văn, Johnson đã đưa ra một quyết định gây bất ngờ: Ông sẽ không ra tranh cử thêm một nhiệm kỳ tổng thống, một phần vì ông không tin sẽ được dân Mỹ ủng hộ, một phần do sức khỏe của ông suy sụp sau sự kiện Tết Mậu Thân.

Việc Johnson rút lui không ra tranh cử trong cuộc bầu cử tổng thống cho thấy, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã tác động mạnh mẽ đến tinh thần nước Mỹ, đặc biệt là đối với nhận thức của nhiều chính khách Mỹ, kể cả các chính khách bảo thủ và hiếu chiến, thậm chí đã khiến một Tổng thống Mỹ tự kết thúc sự nghiệp chính trị của mình ở tuổi 60.

VŨ HỒNG KHANH