QĐND - Trung tá, cựu chiến binh Đỗ Xuân Đức quê ở Yên Hưng (Quảng Yên, Quảng Ninh), cư trú ở số 2, ngõ 102, đường Vũ Xuân Thiều, quận Long Biên, TP Hà Nội. Cụ vừa quy tiên hôm 17-3-2016, ở tuổi 86. Kỷ niệm cuộc đời, trong đó có chuyện “hôn nhau giữa chợ” mà cụ từng kể cho đồng đội nghe, rất hóm hỉnh lãng mạn… lại hiển hiện tươi rói.

Ngày 23 tháng 8 năm ngoái, các hội viên Tổ 17-Hội Truyền thống ngành Chính trị Tổng cục Hậu cần, tất cả đều kém cụ từ chục tuổi trở lên, chúc mừng cụ vừa được nhận huy hiệu 65 năm tuổi Đảng. Anh em mời cụ kể chuyện. Cụ giơ cao bàn tay phải, với ánh mắt gợi cảm và giọng nói hào sảng cuốn hút người nghe: “Nhà mình có ba Đỗ Xuân vệ túm nhá. Ông cả Đỗ Xuân Lợi sinh năm 1920, nhập ngũ năm 1945. Còn ông hai Đỗ Xuân Lạc sinh 1925 và Đỗ Xuân Đức mình đây sinh năm 1930, cùng nhập ngũ năm Toàn quốc kháng chiến 1946. Ba anh em mỗi người một đơn vị. Hiếm hoi có lúc gặp mặt, hóa ra đều “túm tó” giống nhau cả. Chả là lúc mới nhập ngũ, quần áo đều do nhân dân giúp đỡ. Về sau, mỗi năm được trên cấp hai bộ dệt bằng sợi đôi. Luyện tập rồi hành quân đánh giặc, trèo đèo lội suối suốt đêm ngày, nên vai và tay áo, ống và đũng quần, đều rách cả. Gặp phụ nữ là cứ phải túm chỗ quần rách để che… Bởi thế mới có chuyện truyền khẩu: “Nhìn anh vệ túm thương ghê/ Tay cầm khẩu súng, tay che mảnh quần”. Một phút trầm ngâm, cụ kể tiếp: “Năm 1948, ông cả Lợi không may hy sinh. Ông hai Lạc và mình, không ai bảo ai, cùng quyết tâm phấn đấu để đền đáp công ơn của cha mẹ, thi đua giết giặc để trả thù cho anh. Thế là năm 1949, cả hai cùng được kết nạp Đảng. Thành ra năm 2015 này, cả hai anh em đều được nhận Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng”.

Tổ 17-Hội Truyền thống ngành Chính trị Tổng cục Hậu cần chúc mừng Trung tá, CCB Đỗ Xuân Đức (bên trái) nhân dịp cụ được nhận Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng (năm 2015).

Suốt 9 năm cùng đồng đội tham gia đánh Pháp liên miên trên các chiến trường, hòa bình, cụ được thủ trưởng cho đi học tập, bồi dưỡng thêm về lý luận chính trị rồi được điều về công tác tại cơ quan Tổng cục Hậu cần.

“Vệ túm” với duyên “trời định”

Cụ Đức nhập ngũ cùng với anh trai của cụ Lê Thị Kim Liên là người cùng huyện Quảng Yên. Những ngày còn huấn luyện, mỗi khi điều kiện cho phép, cụ thường được bạn mời về thăm gia đình. Cụ Liên lúc ấy còn ít tuổi nhưng đã bộc lộ nhiều nét xinh tươi duyên dáng, khi “tới tuần cập kê” (15-16 tuổi) cụ Liên đã có không ít người để ý, theo đuổi. Nhưng bố mẹ cụ thì dứt khoát là “Phải hỏi thằng Đức, xem ý của nó như thế nào đã!”. Hòa bình lập lại, cụ Liên viết thư cho cụ Đức. Thật chẳng may, thư không tới nơi được… Đợi mãi. “Trăng đến rằm thì trăng… phải tròn”, cụ Liên quyết định nhận trầu cau của một người... Ít lâu sau, như ông trời sắp đặt, cụ Đức trở về trước khi cụ Liên nhận lễ cưới. Đối diện người con gái mà bấy lâu mình vẫn chờ mong, cụ Đức giãi bày thật ngắn gọn: “Trước kia anh cũng đã định “đặt vấn đề”, nhưng Liên còn nhỏ tuổi quá. Đến năm Liên bước vào tuổi 18 thì toàn quân cũng vào tổng tấn công giặc Pháp, đánh trận Điện Biên, anh không nỡ nêu ý định ra nữa. Vì trong cơn binh lửa, không biết người lính rồi sẽ thế nào? Hay lại để đau khổ cho thân gái miền quê!”… Nghe nỗi niềm ấy, cả nhà đồng ý gả cụ Liên cho chàng quân nhân Đỗ Xuân Đức, vốn đã quen biết trong kháng chiến… Ngay sau đó, cụ Đức mua lễ để cụ Liên nhờ người mang sang nói chuyện tử tế với người hôm trước…

Hai cụ đăng ký kết hôn ngay sau khi cụ Đức đã là cán bộ chính trị ở cơ quan Tổng cục Hậu cần (địa điểm là số 5 Nguyễn Tri Phương-Hà Nội ngày nay). Thật không may, người con đầu lòng của hai cụ sớm qua đời. Nỗi đau thắt cả lòng. Chỉ huy cơ quan cảm thương, động viên cụ Đức viết đơn xin cho vợ vào làm công nhân ở Xưởng may quân trang X10 (Công ty Cổ phần May 10 ngày nay) để vợ chồng thuận lợi hơn trong công tác và sinh hoạt.

“Đừng ai bắt chước mình nhé!”

“Mình nghỉ hưu sớm là do hoàn cảnh khó khăn. Vì mình sinh nhiều con, mà toàn con trai!...”-Cụ Đức lại cuốn hút người nghe như thế! Tại X10 hồi ấy, vợ chồng cụ được ghép với một cặp đôi khác để đủ tiêu chuẩn chung một căn hộ 20m2, có vách ngăn ở giữa. Vài năm sau, mỗi cặp có hai con nhỏ. Căn hộ trở nên chật chội. Hai đứa con trai của vợ chồng cụ Đức lại hiếu động, thành ra căn phòng càng thấy ngột ngạt, “khó thở”. Mọi người khuyên vợ chồng cụ đẻ thêm đứa nữa để đạt tiêu chuẩn được phân phòng ở độc lập 15m2. Thế là đứa con thứ ba nhanh chóng ra đời. Lại con trai. Tâm trạng “Tam nam bất phú” được lan truyền từ nhà hộ sinh về căn phòng nhỏ nhoi ở khu tập thể May 10. Và, để không bị “bất phú”, hai cụ quyết định đẻ thêm, đến bao giờ vượt “tam nam” mới thôi. “May quá, cháu thứ tư… là trai!”.

Năm 1972, chồng 42 tuổi, tròn 26 năm quân ngũ, hàm Trung tá; vợ mới có 35 tuổi, hưởng lương thợ may “bậc giữa”; nuôi 4 cậu con trai đang “nhầng nhầng”; vẫn ở nhờ nhà của cơ quan vợ. Khó khăn, thiếu thốn cứ lớn dần. Không ít lần cụ Đức phải quay mặt đi khi thấy vợ kiếm cớ để nhường cơm cho mấy bố con. Hôm thì bà nói tỉnh queo: “Lúc gần trưa, chị bạn cùng tổ mời miếng bánh bao. Giờ vẫn còn ngang dạ”. Hôm lại: “Nay xưởng may họp sơ kết, có bánh kẹo…” v.v.. và v.v.. Thế là cụ Đức trình bày với tổ chức, xin được nghỉ hưu để giúp đỡ vợ nuôi con ăn học. Xét hoàn cảnh thực tế, không ai nỡ giữ cụ lại, mặc dù rất tiếc người cán bộ hai thời kỳ kháng chiến, trung kiên và chuẩn chỉ.

Sau ít ngày “điền viên” gia quyến, cụ Đức bán chiếc xe đạp Trung Quốc và cái đài Xiêng Mao-tài sản lớn nhất mà vợ chồng cụ chắt chiu qua hơn 15 năm chung sống, cộng với số tiền tiết kiệm phòng khi bất trắc, mua được một mảnh đất ở mặt đường cái (nay là đường Vũ Xuân Thiều thuộc quận Long Biên, TP Hà Nội), dựng lều, tần tảo chăn nuôi, trồng rau bán lấy tiền. Những ngày chủ nhật và sau giờ làm ở xưởng may, cụ Liên lại cặm cụi cùng chồng bên vườn rau… Có hôm hai vợ chồng đạp xe lên Nhà máy diêm ở gần Cầu Đuống mua mùn cưa về nấu cám lợn, ngang đường bất chợt gặp cơn mưa rào. Trú mưa dưới mái hiên một cửa hàng mua bán trên đường Ngô Gia Tự, cựu Trung tá đứng sát vào để vợ đỡ lạnh, miệng ngâm nga: “Anh quen rồi! Lính mà em!” làm cho cụ bà vừa hãnh diện, lại vừa thương…

Ông với bà là nhất

Năm 2000, cụ Đức đúng bậc “cổ lai hy”, hai cụ “trích” một phần đất, bán đi lấy tiền làm nhà. Số đất còn lại để cho các con. Cụ Đức tự tin thổ lộ: “Còn mình thì, Tuổi già, thực hiện phương châm/ Sống riêng nhưng vẫn ở gần cháu con. Ông với bà là nhất”. Ấy đấy, bao giờ cũng thế, cứ nói đến người vợ thân yêu là cụ Đức lại ý nhị pha trò, nghe lý thú lắm: “Mà vui đáo để nhé! Kém chồng 7 tuổi, suýt soát “bát tuần” mà điếc lòi. Con mua cho đôi tai nghe, dùng có một loáng rồi quẳng ra ghế, kêu là… ngứa! Hai năm trước, chân bà ấy còn khỏe, mình vẫn dắt đi chợ. Phải đi cùng để “phiên-truyền”, tức là phiên dịch và truyền đạt. Mỗi lần truyền đạt cứ phải ghé mồm sát vào tai. Mọi người nhìn thấy, trêu vui: “Về nhà hãy hôn! Ai lại hôn ở chợ!”. Mình lại “phiên-truyền”. Thế là “nàng” cười ngặt nghẽo, trẻ đến mấy mươi xuân. Năm 2014, bà ấy 77 tuổi, không may, gặp tai nạn gãy tay. Mọi việc đều có con cháu đỡ. Riêng việc tắm rửa, bà ấy nhất quyết chỉ “mượn” một người duy nhất, là mình đấy. May là, chỉ sau hai tháng bà ấy hồi phục gần được như trước”.

… Cụ Đỗ Xuân Đức “hơn ngày chẳng ở, kém ngày chẳng đi”, chốt đời chỉ trong vòng có vài chục tiếng đồng hồ, thanh bạch và tiên cách, không muốn bất cứ ai, kể cả con cháu, phải vất vả vì mình. Chúng tôi, đồng đội như em út của cụ, giữa niềm thương nhớ vô bờ, cứ vẫn văng vẳng bên tai những lời của người lính già khả kính: “Tôi nhận Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng, ngoài tấm bằng vô giá, lại còn có năm triệu tám trăm nghìn đồng. Tôi trưng tấm bằng lên chỗ trang trọng nhất trong nhà. Tiền thì mang chia cho 5 mẹ con bà ấy. Mỗi người một triệu đồng. Tôi giữ lại tám trăm nghìn đồng để tiêu vặt, “Cũng là trong túi có tiền/ Khi cần dùng đến chẳng phiền cháu con”…

Bài và ảnh: PHẠM XƯỞNG