Binh trạm 37 chúng tôi, một đơn vị đầu mút phía Nam cũng được lệnh tạm ngừng vận chuyển, kết thúc chiến dịch. Bộ tư lệnh Trường Sơn triệu tập các đơn vị về dự hội nghị tổng kết. Đoàn của Binh trạm 37 có anh Thảo-Chính ủy và tôi-Binh trạm phó nằm trong danh sách về họp lần này.
    |
 |
|
Vợ chồng Thiếu tướng Tô Đa Mạn, năm 1994. |
Cuộc họp diễn ra vẻn vẹn trong hai ngày, nhưng có bao điều thật bổ ích. Rồi đại biểu nhanh chóng trở lại đơn vị triển khai cho kịp mùa chiến dịch mới. Đoàn chúng tôi vì ở xa, ở sâu nên sau khi làm việc với các đơn vị xong, Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên giữ lại để động viên thêm, nhấn mạnh về nhiệm vụ, vị trí quan trọng trong đội hình chung của toàn binh đoàn. Hai chúng tôi lắng nghe và ghi chép đầy đủ… Thế rồi, trong một thoáng suy tư, tư lệnh vỗ vai chúng tôi thân mật và nói:
- Anh Thảo và anh Mạn vào chiến trường đã lâu, lại ở đơn vị sâu nhất, xa nhất. Nay bộ tư lệnh cho phép các anh được tranh thủ về thăm gia đình một số ngày. Các anh thấy thế nào?
Được thủ trưởng đánh đúng tâm lý, chúng tôi phấn khởi nhìn nhau và chỉ biết nói lời cảm ơn, hứa sẽ trở lại đơn vị đúng ngày. Anh Thảo, một cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc, vào chiến trường cũng đã 5 năm, đang suy nghĩ gia đình ở Hà Nội không biết tản cư ra sao. Tôi xa nhà đến lúc đó cũng gần 6 năm. Vừa là thăm lại miền Bắc những năm tháng chiến tranh phá hoại, vừa thăm quê hương tôi, xã Đông Hoàng, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình có mẹ già, có vợ tôi tần tảo cùng các con trai, con gái. Khi tôi đi, chúng còn rất nhỏ, có đứa chưa biết mặt bố…
Sau năm 1956, tôi là trợ lý pháo binh Trung đoàn 57, Sư đoàn 304. Cuối năm 1957, tôi và một số đồng chí được đi bồi dưỡng văn hóa để ra nước ngoài học tập. Lúc đó, tôi đã 27 tuổi. Nghĩ mình nếu học tập xong thì cũng đã ngoài 30, về cưới vợ sẽ muộn. Vì vậy, tôi xin tranh thủ về quê hỏi vợ theo lời khuyên của mẹ. “Tiêu chuẩn” tôi xác định về người vợ đơn giản là: Một cô nông dân gần nhà, khỏe mạnh, đảm đang, có hoạt động công tác xã hội. Tháng 6-1957, gặp cô Bùi Thị Lâm chỉ vài lần, đúng tiêu chuẩn, chúng tôi quyết định tiến tới hôn nhân. Đám cưới diễn ra vào tháng 12 năm đó giữa một anh trung úy và cô thôn nữ khỏe mạnh rất đơn sơ nhưng đầm ấm trên một sân nhỏ của nhà hàng xóm, với một nồi nước chè xanh uống bằng bát, vài chục điếu thuốc lá cuốn bằng giấy mỏng.
    |
 |
|
Vợ con Thiếu tướng Tô Đa Mạn, năm 1968. Ảnh tư liệu gia đình |
Nhưng sau đó tôi không đi học nước ngoài mà vào học Khoa Xây dựng của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Tháng 8-1964, ra trường, tôi được điều về Trung đoàn 83 công binh. Tháng 3-1965, Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc cũng là lúc tôi được điều vào miền Nam chiến đấu, phục vụ trên tuyến đường Trường Sơn.
Khi tôi xa nhà vào Nam, vợ chồng tôi có 3 con nhỏ. Cháu đầu Tô Thế Vinh lúc đó 5 tuổi, cháu Tô Anh Ninh 3 tuổi, bé gái Tô Thị Bích Liên mới được 5 tháng tuổi. Tiễn tôi đi, cũng như bao cô gái thời chiến xa chồng khác, vợ tôi nắm tay tôi, rưng rưng nước mắt, nhắn nhủ: “Anh yên tâm vững bước, ở nhà em sẽ chăm sóc bố mẹ và các con”. Giờ đây đã gần 6 năm xa nhà, không hiểu một mình vợ tôi làm hợp tác xã sao nuôi 3 đứa con ăn học, lại chăm sóc các cụ bên nội, bên ngoại…
Nghĩ ngợi lan man nên đôi lúc tôi không tập trung, đi vấp phải đất đá dọc đường, tụt cả dây dép cao su. Thấp thoáng cây cầu nhỏ Tống Khê hiện ra, báo hiệu đã đến đầu làng quê tôi, thôn Thái Hòa, xã Đông Hoàng. Rẽ qua con đường là vào trong xóm, lòng tôi càng rộn ràng thêm. Có mấy chị đi làm thấy tôi, nói với nhau: “Bà vợ nào có chồng về thì vui lắm đấy, không như một số gia đình khi thấy có thư ở xa đưa về là giật mình thon thót”.
Nhà tôi vẫn cũ xưa nhưng vắng tanh, tự nhiên tim tôi đập mạnh hơn, mắt hơi nhòa đi, chiếc ba lô lúc này như nặng thêm. Ngôi nhà tranh ba gian vẫn thế, họa chăng chiếc mái cũ được dặm thêm một vài mớ rạ mới lỗ chỗ màu vàng tươi. Các bức tường nhà bằng đất nện, nay càng nhiều khe nứt to. Chiếc cửa vẫn chỉ là tấm liếp cũ kỹ được chống lên hạ xuống. Một chiếc giường, một bàn nhỏ, một ngọn đèn dầu bóng còn muội đen bên cạnh chồng sách vở để lộn xộn là nơi các con tôi học. Vừa bước ra sân, thấy hai đứa trẻ con ngộ nghĩnh đang nấp sau đống rơm lấm lét. Thoáng thấy tôi, chúng định ù té chạy. Tôi gọi lại, đứa lớn chừng hơn 10 tuổi bên hàng xóm nói: “Bà nhà đi làm đồng chiều tối mới về”. Rồi nó liếc đứa nhỏ bảo: “Này Vinh ơi, hình như là bố mày về đấy”. Thằng bé tên Vinh cãi: “Không phải đâu, bố tớ nói là đi đánh Mỹ, bao giờ thắng lợi, thống nhất mới về cơ!”. Thế rồi cu cậu cắm đầu chạy đi đâu không rõ.
Sau này vợ tôi kể lại, thì ra nó chạy thẳng ra cánh đồng chỗ mẹ đang làm. Thấy nó, vợ tôi hỏi: “Con đi đâu mà hớt hải vậy?”. Thằng bé gãi đầu: “Mẹ ơi… có chú bộ đội về nhà ta, con trông hình như bố”. “Bố còn lâu mới về, có lẽ con nhìn nhầm đấy. Chắc là chú bộ đội nào ở trong đơn vị ra như hôm trước đấy thôi”. Thằng bé lại phụng phịu: “Con trông chú ấy hơi giống ảnh bố ở nhà”, rồi nó tả động tác vào nhà của tôi, rồi có lúc lại đứng thần người ra. Mấy chị đang làm lúa bên cạnh bông đùa vợ tôi: “Đúng là anh ấy rồi đấy. Thích bỏ xừ đi, còn làm bộ làm tịch. Thôi về đi, để chúng tớ làm nốt”. Thế rồi vợ tôi vuốt lại quần áo còn vết bùn, chiếc nón lá cầm tay, dắt con bước nhanh.
Về đến cổng nhà, thoáng thấy bóng dáng tôi, vợ tôi quay lại bảo con trai: “Đúng bố con rồi đấy, không nhầm đâu, chạy lại nhận bố đi”. Thằng bé tiến tới, hai bố con ôm chầm lấy nhau. Nó gọi: “Bố, bố”, rồi òa khóc. Tôi xoa đầu con: “Con ơi, bố Mạn của con đây!”, rồi hỏi: “Thế còn hai em đâu?”. Nó khẽ đáp: “Hai em chơi bên hàng xóm ạ”, rồi chạy vội đi gọi em về. Vợ tôi nãy giờ vẫn đứng im lặng, nước mắt lưng tròng, chiếc nón cầm tay rơi lúc nào chẳng biết. Khi các con về đông đủ, tôi lấy lại tinh thần, nói: “Cả nhà được gặp nhau thế này, phải vui lên chứ. Thôi, vào nhà đi các con!”.
Một ngày ở nhà là dịp tôi được đi thăm các cụ bên nội, bên ngoại, bà con hàng xóm và dành một phần thời gian nhất định để tâm sự với 4 mẹ con. Câu chuyện cứ râm ran liên tục, nhưng cũng có lúc lại trầm lắng vì những cảm xúc, những sự việc trong thời gian tôi đi vắng xen vào. Tôi kể lại nhiệm vụ ở chiến trường, nhưng dành nhiều thời gian để vợ giãi bày chuyện nhà. Vợ tôi nói: “Anh gầy quá, nước da xanh quá, chắc gian khổ, thiếu thốn nhiều. Nhìn anh mặc chiếc áo cổ vuông xám nhạt cũ, trễ cả chiếc cổ dài ra, trông thật thương. Nhiều lúc hàng năm trời không nhận được thư tín, em lo quá. Sợ anh không về, các con sau này sẽ ra sao. Anh đi vắng, nhưng cũng mừng là các cụ bên nội, bên ngoại vẫn khỏe, bà con hợp tác xã tích cực giúp đỡ gia đình. Nghe lời anh dặn, em vẫn cố gắng làm tròn bổn phận chăm sóc cha mẹ, nuôi con và vẫn tham gia hoạt động xã hội”. Tôi gật đầu: “Đúng vậy, em thật đảm đang”. Vợ tôi phân trần thêm: “Ở nhà tiếng là đồng lúa 5 tấn, 10 tấn thật nhưng đóng góp nhiều, công điểm xã viên chả đáng là bao. Nhà mình chỉ còn dựa vào nông nghiệp, dựa vào cây lúa, nên phải tằn tiện nuôi con ăn học”. Tôi thấy vợ tôi người gầy và đen đi nhiều, nhưng không biết làm sao, chỉ thỉnh thoảng xen vào câu: “Em giỏi quá, khổ quá, nhưng có hậu phương như em, chiến trường mới đánh thắng chứ!”.
Kể chuyện về các con, vợ tôi nói: “Cũng may mà các con ngoan cũng động viên em nhiều. Anh xem, ở nhà vừa lo lao động vừa phải đề phòng máy bay. Em đã đào một hầm ở dưới sàn nhà, ngay dưới giường các con nằm. Ban đêm, cứ mỗi lần nghe kẻng báo động là phải tắt phụt đèn, đẩy nhanh con xuống hầm, mặc chúng đang ngủ say. Nghĩ mà thương, tuổi nhỏ đáng ra tuổi ăn, tuổi chơi, thế mà chiến tranh đã lan ra tới cả giấc ngủ của trẻ con ở hậu phương”. Càng nghe vợ kể, tôi càng xúc cảm trước những gian khổ, vất vả của người vợ hậu phương thời chiến…
Ngày tôi trở lại đơn vị, vợ tôi không quên gói cho tôi mấy gói bánh làm lương khô ăn dọc đường, một vài bao thuốc lá, dăm gói trà để làm quà cho đơn vị... Tôi thích nhất là có một đoạn dây để buộc võng được lấy từ cuộn dây mà vợ tôi dùng trong phong trào căng dây cấy lúa thẳng hàng-một đoạn dây nối liền tình nghĩa hậu phương-tiền tuyến.
(*) Nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần
Thiếu tướng TÔ ĐA MẠN (*)