QĐND - Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, Hai Trung (Phạm Xuân Ẩn-PV) nhận được chỉ thị từ trung tâm là đi sâu tìm hiểu xem Mỹ có chịu xuống thang chiến tranh ở Việt Nam hay không và nếu có thì sẽ thực hiện theo chương trình, kế hoạch như thế nào?

Chỉ ít ngày kể từ khi nhận được chỉ thị ấy, Hai Trung hay tin Tòa Bạch Ốc (Phủ tổng thống) và Ngũ Giác Đài (Bộ Quốc phòng Mỹ) cử sang Sài Gòn gần như cùng một lúc 3 nhóm nghiên cứu chiến lược. Nhóm thứ nhất có lực lượng rất hùng hậu, do Đại tá Đô-nan Mác-seo đứng đầu, gồm khoảng 25 sĩ quan quân đội, trong đó gần một phần ba có học vị tiến sĩ thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau như quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Đại tá Đô-nan Mác-seo lúc ấy 48 tuổi, được coi là trợ thủ đắc lực nhất của Đại tướng Crai-tơn Uy-li-am A-bram, Phó tư lệnh Bộ chỉ huy cố vấn quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam (Military Assistance Command Vietnam-MACV) trong việc hoạch định các chiến lược và kế hoạch quân sự. Hai nhóm kia đứng đầu bởi giáo sư Ghi Pâu-cơ (giám đốc Vụ Á châu của Tập đoàn nghiên cứu và phát triển-Reasearch And Development Corporation, viết tắt là RAND Corporation, có trụ sở ở thành phố Xan-ta Mô-ni-ca - hạt Lốt An-giơ-lét - bang Ca-li-pho-ni-a) và giáo sư Héc-man Can (một trong ba đồng sáng lập viên của Viện nghiên cứu Hudson - Hudson Institute, có trụ sở ban đầu tại làng Croton-on-Hudson - hạt Oét-trét-xtơ - tiểu bang Niu Y-oóc, về sau chuyển tới thủ đô Oa-sinh-tơn), tuy lực lượng không nhiều song cũng toàn là các chuyên gia sừng sỏ. Ghi Pâu-cơ lúc ấy 51 tuổi, có hiểu biết rất sâu rộng về các nước Việt Nam, In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin, từng đóng vai trò quan trọng trong một loạt hành động của tướng Xu-hác-tô kể từ tháng 10-1965 ở In-đô-nê-xi-a, dẫn tới phế truất Tổng thống Xu-các-nô, đưa Xu-hác-tô lên thay vào tháng 3-1967. Héc-man Can lúc ấy mới 46 tuổi nhưng từ nhiều năm trước đã được coi là một chiến lược gia hàng đầu của nước Mỹ, thường xuyên được Ngũ Giác Đài tham vấn về cuộc chiến tranh Việt Nam. Hai Trung xác định cần tiếp cận để nắm được quá trình làm việc và đặc biệt là kết quả nghiên cứu của cả 3 nhóm này.

Phạm Xuân Ẩn (thứ hai, từ trái sang) tại Sài Gòn năm 1966. Ảnh do tác giả cung cấp.

Đối với giáo sư Ghi Pâu-cơ, Hai Trung là người quen biết cũ, từng phỏng vấn ông ta để viết bài vài lần, vì vậy mà không quá khó để tiếp cận. Với tư cách phóng viên tuần báo The Christian Science Monitor, anh đã đặt thẳng vấn đề và được ông ta dành riêng cho hẳn một ngày để cùng trao đổi. Trong một ngày đó, ông ta đã giới thiệu cho anh khá tỉ mỉ về dự thảo kế hoạch xuống thang chiến tranh gồm 3 giai đoạn của ông ta: Giai đoạn 1 - Quân viễn chinh Mỹ chuyển giao dần nhiệm vụ chiến đấu trên bộ cho quân đội Sài Gòn và rút dần lực lượng ra khỏi miền Nam Việt Nam; Giai đoạn 2 - Quân viễn chinh Mỹ chuyển giao tiếp nhiệm vụ trên không, đồng thời tăng cường vũ khí, trang bị kỹ thuật nhằm giúp quân đội Sài Gòn đủ sức đương đầu với quân đội cộng sản, giữ miền Nam Việt Nam cùng Lào và Cam-pu-chia trong vòng ảnh hưởng của Mỹ; Giai đoạn 3 - Thực hiện nốt các công việc còn lại, làm cho quân đội cộng sản suy yếu tới mức phải từ bỏ các hoạt động chiến đấu, dẫn tới kết thúc chiến tranh, khiến hai miền Nam, Bắc của Việt Nam cùng tồn tại như là hai quốc gia riêng biệt. Theo ông ta, xuống thang chiến tranh, giảm bớt sự dính líu về mặt quân sự ở Việt Nam là điều Mỹ không thể không làm. Những câu hỏi mà Hai Trung đưa ra, ông ta đều vui vẻ giải đáp một cách cặn kẽ. Về cơ bản, đây chính là nội dung cốt lõi về mặt quân sự của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” mà mãi tới đầu năm 1970, tổng thống Mỹ R.Ních-xơn mới chính thức đưa ra.

Đối với hai nhóm còn lại, Hai Trung phải đi đường vòng vì chẳng tìm ra cách nào để gặp gỡ trực tiếp. Anh đã khéo léo gợi ý hai đồng nghiệp thân thiết người Mỹ là Rô-bớt Sáp-len (Robert Shaplen-phóng viên thường trú tại Sài Gòn của nhật báo The New York Times) và Mơ-tơn Pơ-ri (trưởng Văn phòng đại diện tại Sài Gòn của Tạp chí Newsweek) làm việc ấy. Nhờ có các mối quan hệ cá nhân mà họ đã làm được và chia sẻ hết kết quả với anh. Thông tin do Rô-bớt Sáp-len thu thập từ nhóm của Đại tá Đô-nan Mác-seo và thông tin do Mơ-tơn Pơ-ri thu thập từ nhóm của giáo sư Héc-man Can khá tương đồng với những gì Hai Trung thu thập từ giáo sư Ghi Pâu-cơ. Anh mau chóng tổng hợp tất cả, viết một bản báo cáo chi tiết, gửi về, giúp trung tâm nắm được nội dung cơ bản của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh ngay từ khi nó còn là một bản dự thảo.

Cũng về mặt quân sự, nửa cuối năm 1968, sau khi Đại tướng Crai-tơn Uy-li-am A-bram thay thế Đại tướng Uy-li-am Oét-mo-len làm tư lệnh Bộ chỉ huy cố vấn quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam thì một quan hệ tin tức thân cận của Hai Trung là Đại tá Nguyễn Huy Lợi được Mỹ đưa về Bộ tổng tham mưu quân đội Sài Gòn, để cùng viên tướng Pháp hưu trí Phrăng-xoa Va-nuy-xem xem soạn thảo một kế hoạch xây dựng lại quân đội Sài Gòn. Thông qua Đại tá Lợi, Hai Trung đã lấy được nguyên bản kế hoạch này và kế hoạch quân sự AB144 (năm 1969) của quân đội Sài Gòn, đồng thời nắm được nội dung cụ thể các chiến thuật “Bàn cờ” (Chess Board) và “Ong chích” (Sting Ray) của Đại tướng A-bram nhằm bổ sung cho kế hoạch quân sự AB143 (năm 1968) để tiến hành chia cắt, tiêu diệt lực lượng ta. Cuối năm 1968, thông qua một quan hệ tin tức thân cận khác là Đại tá Nguyễn Bé (chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện cán bộ xây dựng nông thôn ở Vũng Tàu), anh lấy được nguyên bản kế hoạch bình định nông thôn mà địch vừa soạn thảo xong.

Đầu năm 1969, hay tin giáo sư Ghi Pâu-cơ lại sang Sài Gòn, Hai Trung liền tới gặp. Ông ta cho biết, kế hoạch xuống thang chiến tranh của 3 nhóm nghiên cứu chiến lược đã được tân Tổng thống Ri-chác Ních-xơn chấp thuận về cơ bản và đang được Ngũ Giác Đài hoàn chỉnh. Khi anh hỏi mượn một bản để nghiên cứu, viết bài, ông ta nói không đem theo nhưng cho biết Viện nghiên cứu Hudson đã cung cấp cho tòa soạn Tạp chí Newsweek một bản. Sau đó, anh nhờ Rô-bớt Sáp-len hỏi dò trong nhóm của Đại tá Đô-nan Mác-seo thì khẳng định được thông tin của giáo sư Ghi Pâu-cơ là hoàn toàn chính xác. Anh bèn thông qua Cao Dao (tên thật là Nguyễn Trần Huyên) và Nguyễn Hưng Vượng là hai người Việt nhờ có sự giới thiệu của anh mà được vào làm cho Văn phòng đại diện tại Sài Gòn của Tạp chí Newsweek, lấy được tập tài liệu dự thảo kế hoạch xuống thang chiến tranh mà giáo sư Ghi Pâu-cơ đã đề cập. Trong tập tài liệu này, giai đoạn một của quá trình xuống thang chiến tranh được coi là giai đoạn quan trọng nhất và được chia làm 3 bước: Bước 1 (dự kiến kéo dài 18 tháng) - Tiến hành bình định một số vùng đông dân quan trọng, triệt hạ hết cơ sở của cộng sản ở đó, rút một phần quân viễn chinh Mỹ ra khỏi chiến trường Việt Nam, đẩy lùi, làm cho Quân Giải phóng không thể duy trì hoạt động ở quy mô lớn hơn cấp đại đội; Bước 2 (dự kiến kéo dài một năm) - Tiến hành bình định tất cả các vùng đông dân quan trọng, chia cắt, xé lẻ, khiến Quân Giải phóng không hoạt động được với quy mô từ cấp đại đội trở lên kể cả ở các vùng căn cứ, cơ bản hoàn tất việc hiện đại hóa quân đội Sài Gòn và rút phần lớn quân viễn chinh Mỹ về nước; Bước 3 (dự kiến kéo dài một năm) - Cơ bản bình định xong miền Nam Việt Nam, đẩy Quân Giải phóng ra khỏi cả các vùng căn cứ ở biên giới với Lào, Cam-pu-chia tăng cường quân đội Sài Gòn cho đủ sức đối phó với quân chủ lực của miền Bắc Việt Nam, rút hết lục quân Mỹ về nước, chỉ để lại cố vấn quân sự và sĩ quan chỉ huy tác chiến. Cũng trong tập tài liệu này xác định rõ một số biện pháp chính cần tiến hành: Củng cố quân đội Sài Gòn cả về số lượng lẫn về chất lượng; củng cố chính quyền các cấp của chế độ Sài Gòn và tăng cường viện trợ kinh tế, kỹ thuật; dồn sức thực hiện chương trình bình định nông thôn, tiến hành phản kích quân đội cộng sản, kể cả sang lãnh thổ hai nước láng giềng là Lào và Cam-pu-chia; cắt đứt các kênh tiếp tế, chi viện của Quân Giải phóng miền Nam, xúc tiến các hoạt động ngoại giao để kiềm chế, cô lập đối phương trên trường quốc tế…

Nhưng đó mới là chiến lược về mặt quân sự, còn chiến lược về mặt chính trị thì Hai Trung chưa nắm được cụ thể. Qua tìm hiểu, anh biết về vấn đề này, bọn chóp bu trong Tòa đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn chia làm hai nhóm. Nhóm thứ nhất, trong đó có đại sứ E.Bân-cơ và nhiều cố vấn chủ chốt, chủ trương gây sức ép buộc Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nhượng bộ các đảng phái đối lập, tiến hành dân chủ hóa chế độ, tăng cường liên kết lực lượng công giáo và lực lượng phật giáo, trên cơ sở đó mà nới rộng hạ tầng xã hội làm hậu thuẫn cho Thiệu, giống như kiểu Mỹ đã làm hồi năm 1954-1955 để giúp Ngô Đình Diệm. Nhóm thứ hai (được Ngũ Giác Đài ủng hộ mạnh mẽ) chủ trương tập trung ủng hộ nhóm tướng lĩnh trẻ thân Mỹ, do Mỹ dựng (vì lúc này các tướng lĩnh thân Pháp đã bị loại gần hết), nỗ lực giúp Thiệu và quân lực Việt Nam Cộng hòa thực hiện 2 mục tiêu lớn của chế độ Sài Gòn là “thăng bằng” (stability) và "hiệu lực” (efficiency), còn việc thả lỏng đối với các đảng phái đối lập thì để sang nhiệm kỳ tổng thống thứ hai của Thiệu (dự kiến là từ năm 1972) mới thực hiện. Anh cũng viết một bản báo cáo chi tiết, gửi về trung tâm.

Mấy tháng sau đó, khi gặp nhau tại đảo Midway vào ngày 8-6-1969 để thảo luận về quá trình Việt Nam hóa chiến tranh, chắc chắn cả R.Ních-xơn lẫn Nguyễn Văn Thiệu đều không ngờ rằng, hầu hết nội dung mà họ đem ra trao đổi, Hà Nội đã biết từ trước đó khá lâu.

VŨ SÁNG (Ghi theo lời kể của Thiếu tướng, Anh hùng LLVT nhân dân Phạm Xuân Ẩn)