 |
|
Ông bà Hồ Sỹ Cường-Nguyễn Hương Vy năm 1968 khi ông từ miền Nam ra miền Bắc điều trị. Ảnh do gia đình cung cấp
|
Hôm tôi đến thăm đúng vào dịp cúng 100 ngày mất của vợ Đại tá tình báo Hồ Sỹ Cường (ngụ tại phường 8, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh). Run run thắp nén nhang lên bàn thờ bà, khóe mắt ông ngấn lệ. Bằng sự mưu trí của người chiến sĩ tình báo, nhiều lần ông đã thoát khỏi vòng vây địch để bảo vệ an toàn cơ sở cách mạng và lành lặn trở về với vợ con.
MƯU TRÍ…
Hồ Sỹ Cường sinh ra và lớn lên ở Đông Hà (Quảng Trị). Trước khi nhập ngũ, anh đã tham gia lực lượng dân quân xã từ tháng 7-1949. Chỉ hơn một năm sau, anh đã được kết nạp Đảng (9-1950) và được phân công hoạt động bí mật tại Đông Hà. Một lần địch phát hiện và lôi anh từ hầm lên nhốt vào xà lim, tra tấn anh bằng điện và đổ nước xà phòng vào miệng, mũi. Sau một tuần địch vẫn không khai thác được gì nên giam anh vào nhà lao Đông Hà. Một năm sau chúng buộc phải thả anh về vì không quy kết được tội cho anh.
Ngày 4-2-1952, anh đã xung phong nhập ngũ vào Trung đoàn 95 (Sư đoàn 325, Quân khu 4). Hòa bình lập lại (năm 1954), cấp trên có chủ trương rút Tiểu đoàn 310 (Sư đoàn 325) xây dựng thành Trung đoàn độc lập 270 (Quân khu 4) có nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến Vĩnh Linh (Quảng Trị). Một thời gian sau, Lữ đoàn 341 (Quân khu 4) được thành lập và anh được chuyển từ Trung đoàn 270 về đơn vị C31 (Lữ đoàn 341) để công tác. Đến cuối năm 1964 anh trở thành thành viên của tổ tình báo T65 thuộc Cục Tình báo (năm 1990, T65 đã được phong tặng danh hiệu đơn vị anh hùng LLVT nhân dân). Trong quá trình hoạt động ông mang rất nhiều tên: Dược, Hòa, Phẩm, Dũng, Dư, Cường (trong đó, Dược là tên khai sinh và Cường là bí danh cuối cùng).
Trong những năm 60 của thế kỷ 20 vùng Trị -Thiên là một trong những điểm nóng mà địch tăng cường tàn phá. Do thông thuộc địa bàn nên anh được đơn vị tin tưởng giao nhiệm vụ vào nằm vùng tại làng La Văn Hạ (ngoại ô thành phố Huế). Đây là vị trí ta dùng làm bàn đạp để tấn công vào Huế, do vậy địch lùng sục rất gắt. Chúng lập các chốt phục kích ngoài làng ngăn không cho lực lượng cách mạng thâm nhập và sử dụng thám báo đến các nhà dân trong làng dò la tin tức nhằm phá hoại mạng lưới điệp báo của ta.
Vào một buổi sáng cuối năm 1967, sau khi nắm tình hình địch, Hồ Sỹ Cường trở lại nhà bác Nuôi - một cơ sở trong làng đang giữ tài liệu quan trọng cần phải chuyển khẩn cho cách mạng. Đang ngồi ăn cơm cùng gia đình, thấy xuất hiện 3 người mặc quân phục giải phóng bước vào, bác Nuôi mừng quá: “Chà, anh em đã về đây. Không biết đã ăn uống gì chưa?”. Bằng cảm quan của một chiến sĩ tình báo, hơn nữa, liếc mắt sang hai bên cửa sổ, anh thấy có 4 tên nữa đang chĩa thẳng súng vào mình nên biết chắc mình đã rơi vào vòng vây của địch. Bất ngờ, một tên quát: “Thằng áo xanh giơ tay lên!”. Nghe rõ nhưng làm ra vẻ không biết gì, anh vẫn ngồi ăn cơm ngon lành mà thực ra là cố kéo dài thời gian để nghĩ cách thoát thân.
Kể đến đây, giọng Đại tá Hồ Sỹ Cường chùng xuống: “Nghĩ đến chuyện một đồng chí của ta để địch bắt không dám chống cự, dân chê trách. Vì thế mình phải phản kháng, nhưng khi ấy, mình chống cự ngay thì không chỉ bị chúng bắn chết luôn mà còn liên lụy đến gia đình bác Nuôi. Tài liệu mật còn đang cất trong nhà có thể sẽ bị phát hiện, địch sẽ đốt nhà và giết chết cả gia đình bác Nuôi. Thế thì bà con nào còn dám che giấu, đùm bọc cho cách mạng nữa”.
Với suy nghĩ ấy, anh thản nhiên nói với bác Nuôi: “Chú đứng dậy cho tôi đi ra”. Sợ “người lạ” chạy, cả 7 tên địch xông vào níu áo và định trói anh. Nhưng do không chuẩn bị dây nên ngoài 2 tên đứng khóa tay anh, số còn lại chạy tìm dây để trói. Do khám xét người anh thấy có súng ngắn nên chúng hí hửng, cho đây là con mồi bự, chắc phải là huyện ủy viên trở lên, cần bắt sống để lĩnh thưởng. Thấy anh đầu hàng vô điều kiện, chúng yên tâm kẹp chặt nách anh và đẩy ra đường. Trong đầu anh chợt nảy ra ý nghĩ: “Trước cái chết phải tìm ra cái sống, nếu để chúng trói rồi thì hết chuyện”. Vả lại, địa bàn này anh đã điều nghiên kỹ rồi nên anh nói với bọn chúng: “Bây giờ tôi như cá trong chậu, chim trong lồng, các anh cho tôi bỏ dép đi cho tiện vì đường mới mưa trơn đi không được”.
Nghe có lý, chúng nới tay để anh cúi người xuống tháo dép ra. Ngay lập tức, anh hạ thấp tấn, dùng hai khuỷu tay đánh mạnh vào hạ bộ của hai tên địch. Bị đánh bất ngờ, chúng ngã nhào buông tay ra, anh vùng chạy mất hút vào vườn cây rậm trong làn đạn dồn dập của địch.
HẠNH PHÚC…
Trước khi đi “nằm vùng” hoạt động, ông được đi học một khóa đào tạo tại Trường cơ giới 19-8 tại huyện Phủ Quỳ (nay là Nghĩa Đàn), tỉnh Nghệ An. Trong thời gian này anh bộ đội Cường đã làm quen được cô công nhân Nguyễn Hương Vy (quê Hà Tĩnh). Mới 17 tuổi nhưng Vy đã làm công nhân tại Xưởng chế biến cà phê của Nông trường Cờ Đỏ. Cô gái có mái tóc đen nhánh, làn da trắng hồng, đôi mắt như biết cười và cái miệng rất duyên. Lân la mãi anh cũng đã làm cho cô gái ấy nhận ra tình cảm chân thành của mình. Khi đó anh đã 32 tuổi, hơn Hương Vy 12 tuổi, nên anh chỉ sợ cô chê mình già. Nhưng thật sung sướng khi anh biết cô gái rất quý mến bộ đội miền Nam.
Thấy 2 người rất gắn bó, thương yêu nhau nên cơ quan của cô gái đứng ra vận động họ cưới để sớm nên vợ nên chồng. Do người trong Ban Giám đốc Nông trường cũng là người miền Nam nên họ rất hiểu và ủng hộ anh. Đám cưới của 2 người được tổ chức đơn giản và tiết kiệm. “Hai bên gia đình ở xa không ai đến dự được, nhưng đám cưới của chúng tôi vẫn rất đông vui bởi sự có mặt đông đủ của đồng đội và đồng nghiệp. Tiệc cưới chỉ có trà xanh, mấy gói thuốc lá Tam Đảo, vài cân bánh kẹo, ấy thế mà vui đáo để, sống với nhau đến đầu bạc đây này”. - Mỉm cười nhìn lên bàn thờ bà, ông chỉ tay lên mái tóc của mình đang dần bạc trắng.
Gần hai năm sau ngày anh ra Bắc học, Cục Tình báo (trực thuộc Tổng Cục an ninh-Bộ Công an) xin anh về với lý do anh đã từng công tác 10 năm trên địa bàn Quân khu 4 nên thông thạo địa bàn (Sau này Cục Tình báo tách ra khỏi Tổng Cục an ninh thành Tổng Cục tình báo). Cưới vợ tháng 3-1964 thì đến tháng 12-1964 anh được lệnh hành quân vào Nam chiến đấu. Khi chia tay chồng đi B, lạ thay, chị không khóc. Vì chị nghĩ nếu vợ con rơi lệ tiễn chồng thì chắc chắn tâm trạng của người đi xa sẽ bất ổn, làm sao có thể hoàn thành nhiệm vụ của người chiến sĩ tình báo được. Nhưng đêm về, nước mắt chị mới trào ra ướt đẫm gối vì thương nhớ chồng. Bởi ngày ấy, đi B đồng nghĩa với chưa biết ngày trở lại. Song chị đã gạt nước mắt, bình tâm lại để công tác tốt, nuôi dạy con ngoan và vững tin chờ ngày chồng trở về.
Ông bồi hồi nhớ lại, ngày “đặt vấn đề” được bà chấp nhận yêu và làm vợ người lính. Lần ấy, ông thật thà hỏi bà: “Yêu anh, lỡ mai mốt anh vào Nam chiến đấu thì sao? Đâu biết có ngày trở lại!”. Bà chân thành trả lời: “Người ta biết là hy sinh mà vẫn sẵn sàng đi chiến đấu thì không có lý do gì mà những người như em không lấy họ làm chồng!”. Xiết chặt bàn tay người yêu, chàng trai như muốn nói tình yêu anh dành cho cô là mãi mãi...
Cưới nhau xong, hằng ngày anh mong ngóng “tin vui”. Vì anh nghĩ mình đã “đứng tuổi” rồi cần phải có con nối dõi trước khi đi chiến đấu. Chiến tranh mà, sự sống và cái chết luôn cận kề, lỡ người chồng ngã xuống mà chưa có con thì người vợ nào chẳng thấy cô quạnh, buồn tủi. Đêm trước ngày chia tay lên đường vào Nam, anh cứ xoa bụng vợ và thì thầm nói chuyện với đứa con mới hình thành. Cứ thế, anh tâm sự với vợ con suốt đêm để ngày mai bước lên đường là gạt hết tình riêng sang một bên mới có thể yên tâm làm nhiệm vụ.
Tháng 2-1965 vợ anh sinh con đầu lòng. Cấp trên cho người về thăm hỏi gia đình để nắm tin thông báo cho anh biết. Không hiểu truyền tin thế nào mà “tam sao thất bản”. Anh nhận được tin vợ anh sinh con gái. “Lúc ấy chú vui lắm vì mãi 33 tuổi mới được lên chức bố mà. Nhưng thật lòng là chú cũng hơi buồn một chút vì lỡ mình hy sinh thì vẫn chưa có “thằng nối dõi”. Sau đó, cấp trên đính chính lại là vợ chú sinh con trai. Mừng lắm, cháu ạ”- ông thật thà tâm sự. Sau tin ấy, anh đặt bút viết thư nhờ gửi về cho vợ: “Lúc chia tay vợ chồng mình cùng xác định, anh ra đi không chắc có ngày trở lại. Vì thế được tin em “mẹ tròn con vuông” anh rất mừng. Anh thật sự hạnh phúc khi biết rằng em đã sinh cho anh một “chiến sĩ nhí”. Ở nơi xa không về chăm sóc 2 mẹ con được, anh vô cùng áy náy…”. Nhận được thư chồng, chị đã hồi âm: “Thư anh gửi, mẹ con em đã nhận được. Em và con vẫn khỏe. Công việc “chung”, “riêng” vẫn hài hòa. Anh cứ yên tâm công tác tốt. Không lúc nào mẹ con em không nhớ đến anh…”. Ngày ấy thư từ đâu có thể gửi qua bưu điện được vì ông là cán bộ tình báo đang hoạt động bí mật. Chỉ khi nào có đợt chuyển công văn thì “đường dây giao thông” mới chuyển thư từ đi cùng. Ông rưng rưng kể: “Có khi cả năm trời mới nhận được thư gia đình, vợ con ấy chứ. Theo ngày tháng đề trong thư thì lá thư cô hồi âm cho chú đi từ Bắc vào Nam mất gần 6 tháng…”.
 |
|
Ông Hồ Sỹ Cường (đầu tiên bên phải) và bà Nguyễn Hương Vy (thứ ba từ trái qua) cùng con cháu
|
Năm 1969 ông về nhận công tác tại Văn phòng của Bộ Công an. Mười một năm sau cấp trên điều ông vào công tác tại Thành phố Hồ Chí Minh. Và, vợ ông sau khi vào làm y tá tại Bệnh viện 198 cũng đã được chuyển công tác vào Nam làm việc tại Bệnh viên 30-4. Từ đó đến ngày bà mất, ông bà thường xuyên ở bên nhau để bù đắp cho những năm tháng chiến tranh xa vắng.
Chỉ tấm ảnh cả gia đình treo trên tường, ông giới thiệu, đây là cậu cả Hồ Sỹ Tùng, đã 44 tuổi rồi. Xong nghĩa vụ quân sự, anh đã làm ở Viện kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh và nay chuyển ngành làm trong lĩnh vực máy tính. Cậu út Hồ Sỹ Tuấn (38 tuổi) cũng đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, hiện đang làm tại Bảo Việt (hợp tác với Nhật Bản). Đến nay ông bà đã có 3 cháu nội (2 trai và 1 gái). Mỉm cười mãn nguyện, ông nói: “Chú không có gì là ân hận, mọi nguyện vọng ước mơ đều thỏa mãn. Chỉ tiếc rằng bà nhà tôi vì lâm bệnh nặng nên đã ra đi sớm hơn tôi”.
Bài và ảnh: Băng Phương