Nhân kỷ niệm 50 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Cam-pu-chia (24-6-1967/24-6-2017), chúng tôi trích dịch một số đoạn trong tác phẩm của Uyn-phrét Bớc-sét nói về quan hệ hợp tác và hữu nghị giữa Việt Nam và Cam-pu-chia giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Pháp đến thập niên 60 của thế kỷ 20.

Đông Dương là một chiến trường

Trong cuốn sách nổi tiếng về sự thăng trầm trong sự nghiệp giành và giữ nước của Cam-pu-chia Tam giác Trung Quốc, Cam-pu-chia, Việt Nam (NXB Vanguard Books, xuất bản năm 1981), Uyn-phrét Bớc-sét viết:

“Các lực lượng kháng chiến của Việt Nam gánh vác chủ yếu cuộc đấu tranh vì độc lập của nhân dân ba nước Đông Dương là không thể bàn cãi. Nhưng Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo Việt Nam với quan điểm coi trọng tinh thần dân tộc của người Cam-pu-chia và Lào, luôn hỗ trợ họ trong sự nghiệp giành độc lập và chủ quyền. Dù lực lượng chủ lực chiến đấu trên cả ba mặt trận của ba nước Đông Dương chủ yếu là người Việt Nam, nhưng khi chiến đấu ở Cam-pu-chia, bộ đội Việt Nam chiến đấu trong đội hình của Mặt trận Issarak, và ở Lào trong đội hình của Mặt trận Itsala. Trong khuôn khổ hai tổ chức nói trên, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã hết lòng, hết sức hiệp trợ sự phát triển các cơ cấu chính trị, quân sự của Khơ-me và Lào thành các lực lượng quốc gia chân chính.

leftcenterrightdel
Từ trái qua phải: Quốc trưởng Nô-rô-đôm Xi-ha-núc, đồng chí Nguyễn Hữu Thọ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Hoàng thân Xu-pha-nu-vông tại Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương năm 1970.

Trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương của Pháp, chiến trường chính là ở Việt Nam. Cụ thể, nếu năm 1952 Pháp có 237 tiểu đoàn ở Đông Dương thì có tới 199 tiểu đoàn được bố trí ở Việt Nam, số còn lại rải trên chiến trường Cam-pu-chia và Lào. Cho tới tháng 3-1953, ở Cam-pu-chia chỉ còn 2 tiểu đoàn của Pháp trú đóng cùng 5 tiểu đoàn quân Hoàng gia Khơ-me do người Pháp chỉ huy. Chính thắng lợi của Việt Minh trên các chiến trường Việt Nam và Lào đã trở thành nhân tố chính tạo nên các điều kiện cho Cam-pu-chia giành độc lập dưới chế độ quân chủ vào cuối năm 1953.

Xi-ha-núc cảm nhận được quá trình này và ông đã sử dụng chiến thắng của Cách mạng Đông Dương trên từng chiến trường để vững bước đi tới nền độc lập của Cam-pu-chia. Ngay từ tháng 6-1952, Xi-ha-núc đã giải tán chính phủ Cam-pu-chia và nắm quyền trên cương vị Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Từ đây, ông bắt đầu một cuộc mà ông gọi là Thập tự chinh của Hoàng gia Cam-pu-chia vì nền độc lập của nước này…”.

Trong cuốn Cuộc chiến chống CIA của tôi (NXB Pantheon Book, năm 1973) viết chung với Quốc trưởng Xi-ha-núc, Uyn-phrét Bớc-sét tiếp tục đánh giá vai trò của cách mạng Việt Nam với “Cuộc thập tự chinh của Hoàng gia Cam-pu-chia nhằm giành độc lập” như sau:

“Nô-rô-đôm Xi-ha-núc luôn là một con người thực tiễn. Bài học lịch sử của đất nước Cam-pu-chia cho ông hay rằng nếu người Pháp thành công trong đánh bại Việt Minh, bất cứ mẩu thành tựu nào có được trong sự nghiệp giành độc lập cho Cam-pu-chia sẽ biến mất trong một đêm. Lịch sử của nền cai trị thuộc địa của Pháp ở vùng này là họ luôn sử dụng một nước trong vùng để chinh phục các nước láng giềng. Quá trình Cam-pu-chia giành độc lập phụ thuộc vào quá trình giành toàn thắng của Việt Minh…”.

Kết luận chương Mặt trận Khmer Issarak trong cuốn sách trên, Bớc-sét nhấn mạnh việc Việt Minh tuân thủ nghiêm chỉnh Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 để vãn hồi hòa bình trên toàn cõi Đông Dương cũng là một phần thưởng thêm cho Cam-pu-chia, khi toàn bộ LLVT và cả cán bộ chính trị của Mặt trận Issarak tập kết về miền Bắc Việt Nam.

leftcenterrightdel
Bìa cuốn sách Thượng nguồn sông Mê-kông (NXB Red River, năm 1957). 

Một tài liệu thời chiến đã được giải mật ở Mỹ, nhan đề: Cộng sản và Cam-pu-chia cho hay, từng có khoảng 2.000 chiến binh và cán bộ Cam-pu-chia được tàu của Ba Lan chở về miền Bắc Việt Nam tập kết theo tinh thần của hiệp định. Ban lãnh đạo đảng cách mạng của Cam-pu-chia, dù trú đóng ở Hà Nội năm 1960, là đối tượng nhận sự giúp đỡ chứ không phải là "bù nhìn" của Bắc Việt Nam. Tài liệu còn cho biết khoảng 1.200 học viên Cam-pu-chia theo học tại một trường văn hóa trực thuộc Bộ Ngoại giao Việt Nam, ở cách Hà Nội khoảng 70 dặm, trong đó có khoảng 600 chiến sĩ và 400 cán bộ chính trị; khoảng 300 chiến sĩ người Cam-pu-chia tạm thời phối thuộc trong LLVT của Việt Nam để huấn luyện quân sự.

Theo tài liệu trên, sau nhiều năm được học tập tại Việt Nam, LLVT và các cán bộ chính trị của Cam-pu-chia đã về quê hương phục vụ sự nghiệp đấu tranh vì độc lập của nước mình.

Những năm 1960

Tác giả Uyn-phrét Bớc-sét từng chia sẻ như sau trong cuốn Hồi ký của nhà báo chống đối: “Vào thập kỷ 60 (thế kỷ 20), gia đình tôi sống ở Cam-pu-chia bốn năm liền. Vợ tôi dạy môn Lịch sử nghệ thuật tại Đại học Nghệ thuật Phnôm Pênh và cả ba con của chúng tôi học tại Trường Trung học Lycée Descartes…”.

Với cường độ xâm lược ngày một tăng lên của Mỹ vào Đông Dương từ khoảng năm 1965, đã có sự phối hợp rõ rệt và nhịp nhàng hơn giữa cách mạng Việt Nam và chính phủ Vương quốc Cam-pu-chia. Trong hồi ký trên, Uyn-phrét Bớc-sét cho hay ông từng đóng vai trò “con thoi” giữa những người bạn Việt Nam của mình là  Nguyễn Hữu Thọ, lúc đó ở căn cứ của Trung ương Cục miền Nam, Thủ tướng Phạm Văn Đồng với Quốc trưởng Xăm-đéc Xi-ha-núc. Về một cuộc gặp như vậy vào năm 1966, Uyn-phrét Bớc-sét viết:

“Khi bước vào Phòng khách của Quốc trưởng ở Điện Chamcar Mon, Xăm-đéc Xi-ha-núc siết chặt hai tay tôi trong đôi tay của mình, nói: “Ngài Bớc-sét, tôi được nghe ông đến từ căn cứ Trung ương Cục miền Nam. Xin chúc mừng”. Một chai sâm-panh được mở và một nhiếp ảnh gia ghi lại cái chạm cốc. Tôi chuyển một tin mừng của Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cho Xi-ha-núc. Đó là vài ngày sau khi tôi tới căn cứ cách mạng miền Nam Việt Nam, các du kích của mặt trận đã tiến công thắng lợi vào một căn cứ đặc biệt của Mỹ tại Hiệp Hòa, cách Sài Gòn khoảng 20 dặm về phía Tây Bắc. Trong số các tài liệu đoạt được tại căn cứ này, có các chương trình huấn luyện và chỉ đạo lực lượng Khơ-me tự do (Khmer Serei), do CIA hiệp trợ, được Mỹ trả lương và trang bị vũ khí nhằm lật đổ chính phủ trung lập của Xi-ha-núc. Quốc trưởng Cam-pu-chia đã đánh giá cao tin này. Và “món quà” thứ hai mà Xăm-đéc Xi-ha-núc cũng thấy rất hấp dẫn. Đó là một bản đồ, có dạng giống cái bản đồ tôi từng mang tới Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương năm 1954, cho thấy hầu như phần đất thuộc miền Nam Việt Nam dọc theo dải biên giới với Cam-pu-chia đều do “Việt cộng” kiểm soát. Vị Quốc trưởng tròn mắt khi ông trải tấm bản đồ lên bàn, rồi nhận xét: “Bây giờ tôi hiểu mình sẽ thảo luận vấn đề biên giới với ai”. Tôi tiếp tục chuyển cho ông những lời chúc mừng tốt đẹp nhất từ Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ và mong ước của Chủ tịch là Xăm-đéc sẽ duy trì thành công đường lối đối ngoại trung lập của Vương quốc Cam-pu-chia. Quốc trưởng hỏi những câu đầy trí tuệ về tình hình hiện tại, và tôi đã đáp lại một cách chân thành. Sau đó tôi xin ngài thứ lỗi, nếu quan điểm chống đế quốc của tôi có làm ảnh hưởng đến lập trường của Cam-pu-chia. Quốc trưởng trả lời: “Cam-pu-chia trung lập, nhưng chúng tôi cũng độc lập và có quyền lựa chọn bạn bè của mình”. Chúng tôi chia tay trong tình cảm chân thành, hiểu biết lẫn nhau hơn bao giờ hết”.

Tuy nhiên, dưới thời Xi-ha-núc, vì chính sách đối ngoại của Cam-pu-chia là “trung lập”, Hà Nội đã luôn nhạy cảm trong quan hệ, không bước vào những động thái thuộc khuôn khổ những công việc nội bộ của Vương quốc Cam-pu-chia…

Một tài liệu nghiên cứu của Ô-xtrây-li-a nửa cuối thập niên 1950 cho hay Bắc Việt Nam “hết lòng hết sức ủng hộ chính sách trung lập của Xi-ha-núc và tìm kiếm mọi cơ hội để phát triển tình hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia”.

Nửa thế kỷ nhìn lại

Hôm nay, con trai Uyn-phrét Bớc-sét, anh Gioóc-giơ Bớc-sét (Georges Burchett, sinh năm 1955, tại Hà Nội) viết:

“Như tôi cảm nhận, sau khi các dân tộc Đông Dương giành được độc lập từ tay thực dân Pháp, các thế lực đế quốc và phản động vẫn tiếp tục đẩy ba nước này khỏi quỹ đạo của tình hữu nghị, bè bạn, cũng như tìm cách chia cắt Việt Nam.

Nói riêng về Xi-ha-núc, về căn bản ông có thiện cảm với cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà của Việt Nam. Xi-ha-núc đã thiết lập quan hệ ngoại giao cả với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào năm 1967 và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vào năm 1969. Tôi còn nhớ được đến thăm cả hai Đại sứ quán của Việt Nam vào hai năm cuối chúng tôi ở Cam-pu-chia”.

“Tình hữu nghị và đoàn kết Việt Nam - Cam-pu-chia quả là một trang sử dài, bi tráng, được Uyn-phrét Bớc-sét chép lại trong nhiều sách của ông”, Gioóc-giơ kết luận.

LÊ ĐỖ HUY (dịch)