Chúng tôi tới TP Sơn La, tỉnh Sơn La. Cách trục đường Lò Văn Giá khoảng 500m là đến Di tích lịch sử-văn hóa Văn bia “Quế Lâm ngự chế”. Di tích đã minh chứng cho một thời kỳ lịch sử của vị vua hùng tài, đại lược Lê Thái Tông đã hai lần lên miền biên ải để chinh phạt quân phiến loạn. Vua còn để lại bài thơ khắc trên vách đá lưu danh thiên cổ. Di tích này được phát hiện năm 1965 và được Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích Quốc gia ngày 5-2-1994.

Nằm ở vị trí chiến lược, Sơn La, Tây Bắc luôn được các triều đại phong kiến đánh giá đúng đắn và quan tâm tới mọi biến động vùng biên giới Việt-Lào. Từ thời Lý đã có chủ trương phòng bị từ xa, sử cũng ghi lại rằng: Hàng chục lần vua Lý cùng các tướng giỏi cất quân đi chinh phạt ở biên giới Tây Bắc. Thời Trần cũng nối tiếp chính sách thời Lý, có tới 9 lần đi chinh phạt vùng này. Thời Lê sơ, chỉ trong ba triều vua: Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông và Lê Thánh Tông đã có tới 8 lần dẫn quân đi chinh phạt và cũng chỉ sang thời Lê sơ, với chính quyền Trung ương vững mạnh do Lê Lợi xây dựng, miền Tây Bắc mới thực sự khuôn mình vào lãnh thổ Việt Nam.

leftcenterrightdel
Văn bia “Quế Lâm ngự chế”. Ảnh: Ngọc Huyền 
Theo chính sử, vua Lê Thái Tông tên húy là Nguyên Phong, là con thứ của vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi). Khi lên ngôi, vua lấy hiệu là “Quế Lâm động chủ”, nối tiếp hiệu “Lam Sơn động chủ” của vua cha Lê Thái Tổ. Sử sách ghi lại rằng: “Vua Lê Thái Tông là người hùng tài, đại lược, cương đoán, làm được việc. Khi mới lên ngôi ra sức cầu trị định chế độ, ban sách vở, đặc lễ nhạc, sáng suốt việc chính, cẩn thận việc hình, mới có mấy năm mà điển chương văn vật rực rỡ, trong nước đều biến đổi lớn… Vua lên ngôi, nối vận thái bình, bên trong chỉ huy được quần thần, bên ngoài dẹp được các nước di dịch quấy nhiễu, trọng đạo, sùng nho, mở khoa thi xét tuyển nhân tài, xét tù tử ngục phần nhiều khoan dung xá tội, là bậc vua giỏi thủ thành…”.

Trong thời gian trị vì, vua Lê Thái Tông rất chú ý tới miền Tây Bắc, miền đất phên giậu của Tổ quốc. Để củng cố và bảo đảm sự thống nhất quốc gia, vua Lê Thái Tông đã hai lần chỉ huy quân sĩ lên miền Tây Bắc dẹp bọn phản nghịch. Tháng 3-1440, vua Lê Thái Tông lần đầu tiên thân chinh cùng quân sĩ đi đánh thổ quân phản nghịch tên là Thượng Nghiễm ở Châu Mường Muổi (nay là huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La), tới đâu cũng được nhân dân ủng hộ nên quân của triều đình đã nhanh chóng dẹp an bọn phản loạn. Trên đường về, nhà vua cùng quân sĩ nghỉ chân tại Động La (Thẳm báo ké). Vua thấy nơi đây cảnh đẹp, địa lý thuận lợi, với ý nghĩa sâu xa và tâm hồn thanh thản, nhà vua đã để lại bài thơ cùng lời tựa gồm 14 dòng, mỗi dòng 10 chữ với 140 chữ Hán có nội dung được dịch như sau:

“Quế Lâm ngự chế”:

Tù trưởng Thuận Châu là Thượng Nghiễm phản nghịch, vong ơn bội nghĩa, đem quân theo người Ai Lao làm phản. Thân chinh điều khiển 6 quân tới trị nó. Thượng Nghiễm kế cùng lực tận, dâng voi xin hàng. Ta thương nó quỳ bò không mang vũ khí, không nỡ chém, bèn tha tội cho nó, rồi đem quân trở về để lại một bài thơ rằng:

Nghĩ tới người xa đêm khổ thân

Thổ tù sao lại dám quên thân

Thế gian đã có anh hùng chúa

Thiên hạ ai tha kẻ nghịch thần

Đường sá khó khăn đừng cậy hiểm

Hang cùng đá ấm áp hơn xuân

Yên được dân lành nhơ nhớp hết

Dân xa được hưởng tấm lòng nhân.

(Năm đầu niên hiệu Đại Bảo, 1440, ngày lành giữa tháng 3).

Đúng một năm sau, tháng 3-1441, vua lại kéo quân lên dẹp loạn nghịch Nghiễm ở Châu Mường Muổi, nhanh chóng bắt được tướng Ai Lao là Đạo Mông và vợ con hắn tại Động La, đồng thời bắt được con của Thượng Nghiễm là Sinh Tượng và Chàng Đồng. Thượng Nghiễm ra hàng và chịu tội. Dải đất biên cương của Tổ quốc đã được bình yên. Tên của di tích này chính là tên của bài thơ trên vách đá.

Bài thơ và lời tựa được khắc trên vách đá phẳng, dựng đứng trước cửa hang. Từ cửa hang tới văn bia cao khoảng 5m, văn bia có chiều cao 0,8m, rộng 1,2m, được khắc nét nhỏ, sâu theo kiểu chữ chân, văn bia không trang trí hoa văn, chỉ có hai vạch khắc chìm chạy xung quanh bài thơ. Trải qua hơn 500 năm dãi dầu mưa nắng và biến thiên của lịch sử, bài thơ vẫn còn rõ nét. Văn bia nằm giữa dòng nước chảy nên tuy có bị bào mòn nhưng mặt bia trắng sạch, rõ nét, không hề rêu phong. Việc phát hiện ra văn bia không những có ý nghĩa sâu sắc về mặt lịch sử mà còn có giá trị về văn học.

Nằm trong quần thể Di tích lịch sử-văn hóa Văn bia “Quế Lâm ngự chế”, du khách tới đây còn được chiêm bái Đền vua Lê Thái Tông. Đền được xây dựng theo thế “tiền giang hậu trẩm” lưng tựa vào núi Cằm, trước mặt là dòng Nậm La hiền hòa. Đền được xây dựng trên diện tích 800m2 theo lối kiến trúc của những ngôi đền cổ ở Việt Nam, gồm các hạng mục: Cổng tam quan, sân đền, nhà tả hữu mạc, tòa đại bái và hậu cung.

Qua miền Tây Bắc, dừng chân ở Di tích lịch sử-văn hóa Văn bia “Quế Lâm ngự chế” tại TP Sơn La, lòng mỗi người thêm lắng đọng hồn thiêng sông núi, nhắc nhớ công ơn tiền nhân đã mở đường, giữ yên bờ cõi cho hôm nay và mai sau…

Bùi Thành Đạt