Thủ đoạn “chìa vặn ngược” trong tranh cử

Cuối năm 1968, cuộc chiến tranh Việt Nam lâm vào khủng hoảng mang tính bước ngoặt. Dù không ra tranh cử nhưng Tổng thống Giôn-xơn cần hiệp trợ cho cấp phó của mình là Hăm-phrây (Hubert Humphrey) của đảng Dân chủ thắng cử. Với sự bám đuổi sát sạt của Ních-xơn, ứng cử viên đảng Cộng hòa và các cuộc biểu tình dữ dội trên đường phố Oa-sinh-tơn (Washington), Giôn-xơn cố đạt một cuộc ngừng bắn để mở đường cho Hăm-phrây vào Nhà Trắng. Vừa mềm mỏng, vừa “tay sắt”, Giôn-xơn đã buộc chính quyền Nguyễn Văn Thiệu chấp thuận một hiệp định toàn diện với miền Bắc. Một khi ngừng bắn đã đạt được, Hăm-phrây chắc chắn sẽ đắc cử. Hơn thế nữa, theo tờ New York Times số ra ngày 31-10-2016, việc Giôn-xơn ngừng ném bom miền Bắc sẽ tạo đà cho Oa-sinh-tơn và Hà Nội tiến tới một cuộc hiệp thương có tính xây dựng để kết thúc cuộc chiến tranh mà tính đến thời điểm đó đã có 30 nghìn lính Mỹ thiệt mạng.

leftcenterrightdel
Tổng thống Ních-xơn (bên trái) và Kít-xinh-giơ. 

Nhưng vào “phút thứ 89”, chính quyền Sài Gòn bỗng trở mặt, không tuân theo chủ trương ngừng bắn, khiến đảng Dân chủ mất điểm chí tử trong mắt cử tri Mỹ. Tin tức cập nhật tại Phòng Bầu Dục khiến Giôn-xơn cho rằng, Ních-xơn đã can thiệp và ngăn chặn chính quyền đương nhiệm thực hiện sách lược của mình.

Giải mã băng ghi âm của Tổng thống Giôn-xơn cho thấy, khi nghe tin Ních-xơn “thọc tay” vào chuyện này, ông ta đã lệnh cho FBI theo dõi An-na Chen-nô (Anna Chennault), vợ góa của tướng Chen-nô. Được biết đến như một thành viên “diều hâu” của đảng Cộng hòa, bà An-na Chen-nô thời đó có cả mạng lưới vận động hành lang cho các lợi ích Đại Hán ở khắp châu Á, theo The New York Times.

FBI báo cáo với Tổng thống Mỹ rằng hôm 2-11-1968, bà Chen-nô gọi sang Sài Gòn, chuyển bức điện của “ông chủ” bà ta. Ông chủ của bà Chen-nô, theo Giôn-xơn, chính là Ních-xơn. Cụ thể, bà Chen-nô bảo đại diện của chính quyền Sài Gòn: “Hãy cố giữ vững. Chúng tôi sắp thắng. Hãy nói với chủ của các ông (Nguyễn Văn Thiệu) cố mà đứng vững nhé”.

Trong cuốn sách “Cái giá của quyền lực: Kít-xinh-giơ dưới triều Ních-xơn” xuất bản năm 1983, tác giả Xây-mua Héc-sơ (Seymour Hersh) chỉ đích danh Ăng-ri Kít-xinh-giơ (Henry Kissinger), lúc đó còn là cố vấn của Giôn-xơn tại cuộc hòa đàm về Việt Nam, là kẻ đã mật báo cho bộ tham mưu tranh cử của Ních-xơn là có một cuộc ngừng bắn sắp xảy ra. Ních-xơn đã hành động một cách trái pháp luật, gửi hàng loạt điện mật cho Thiệu, thông báo rằng một khi ông ta lên làm tổng thống, sẽ tạo cho Thiệu một đãi ngộ tốt hơn so với chính quyền của Giôn-xơn.

Sách “Phiên tòa xử Ăng-ri Kít-xinh-giơ”, một cuốn được xem là “phản hồi ký”, phanh phui sự giả dối của “Hồi ký Kít-xinh-giơ”. Tác giả cuốn này, ký giả nổi tiếng Cơ-rít-tô-phơ Hít-chen (Christopher Hitchens) cho rằng, nếu Giôn-xơn đạt được một cuộc ngừng bắn vào mùa bầu cử 1968, Ních-xơn không còn cửa để thắng Hăm-phrây. Hít-chen chỉ ra rằng, ngoài việc tiết lộ bí mật quốc gia cho một kẻ đứng ngoài hệ thống lúc đó là Ních-xơn, sự phụng sự về sau của Kít-xinh-giơ trong chính quyền của đảng Cộng hòa là sự “trưởng thành của một tội phạm chiến tranh”.

Sau khi được tin mật báo của Kít-xinh-giơ, Ních-xơn ráo riết bắt tay vào “phá hoại bàn đàm phán hòa bình tại Pa-ri về Việt Nam”. Tư liệu được giải mật gần đây cho thấy, Ních-xơn đã đưa ra những mệnh lệnh tối hậu cho Chánh văn phòng Ủy ban tranh cử của mình là Han-đơ-man (Haldeman). Bút tích của Han-đơ-man ngày 22-10-1968 ghi lại chỉ thị của Ních-xơn, có đoạn: “Hãy để An-na Chen-nô làm tiếp với Nam Việt Nam”. Phe Ních-xơn thông qua một thương gia Trung Quốc theo chủ nghĩa Đại Hán là Lu-i Cung nhắn Thiệu: “Hãy cố đứng vững!”. Đặc biệt, Han-đơ-man ghi lại “thuật ngữ” mà Ních-xơn dùng cho vụ này: Đó là “chìa vặn ngược” (nguyên văn: Dùng chìa vặn khỉ - monkey wrench) chủ trương của Giôn-xơn là ngừng bắn, đưa quân Mỹ rút ra khỏi Việt Nam trong danh dự.

Cách mà phe tranh cử của Ních-xơn áp dụng quả là đơn giản như vặn “cái cờ lê con khỉ”. Như đã nêu, họ chỉ cần dùng các kênh quan hệ tư nhân để phủ dụ Thiệu phá các thỏa thuận lập lại hòa bình ở Việt Nam. Xảo thuật này, theo tác giả Cơ-rít-tô-phơ Hít-chen, đã vô hiệu hóa cả các cuộc hiệp thương vì hòa bình cho Việt Nam, lẫn chiến lược tranh cử của đảng Dân chủ tại mùa bầu cử 1968.

Việc Ních-xơn can thiệp vào kế hoạch hòa đàm của chính quyền Giôn-xơn đã vi phạm Đạo luật Logan 1797 của Tổng thống Mỹ Giôn A-đam (John Adams), cấm các công dân Mỹ xâm nhập vào các cuộc thương lượng chính thức của nhà nước Mỹ với một nước khác.

Giận dữ và bất lực

Ngày 2-11-1968, đàm thoại với nghị sĩ đảng Cộng hòa E-vơ-rét Đớc-xơn (Everett Dirksen), nhà lãnh đạo phe đối lập thiểu số trong Nghị viện, Tổng thống Giôn-xơn phẫn nộ: “Tôi đã nhận rõ chân tướng của họ”. Băng ghi âm cho thấy, Giôn-xơn giận dữ nói phe Ních-xơn không được phép làm như thế, vì “đây là hành động phản bội lợi ích quốc gia”. “Tôi biết”, Đớc-xơn đáp bằng giọng nhu nhược, bất lực.

leftcenterrightdel
An-na Chen-nô thời kỳ làm “môi giới” giữa đội hình tranh cử của Ních-xơn với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Ảnh tư liệu. 

Các quan chức thân cận nhất với Giôn-xơn giục Tổng thống vạch mặt Ních-xơn. Nhưng tại một cuộc họp được triệu tập ngày 4-11-1968, họ lại quyết định không đưa việc này ra ánh sáng, bởi vì theo Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Clắc Clíp-phớt (Clark Clifford), họ chưa có “bằng chứng 100%”. Cũng có thể do đội hình trợ thủ cấp cao nhất ở Nhà Trắng, sau 4 năm thực hiện “Chiến tranh cục bộ” đã “tan tác chim muông” vì mất những Mắc Na-ma-ra (McNamara), Mắc Gioóc-giơ Bân-đy (McGeorge Bundy)…, lúc chợ chiều này đã hết hơi trên chính trường. Bản thân Giôn-xơn từng tạo ra “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” qua mặt Quốc hội và báo chí Mỹ để đưa hàng trăm nghìn lính Mỹ vào Nam Việt Nam, tới lúc này “gia tài chính trị” cũng đã kiệt quệ trong mắt người dân Mỹ vốn trọng sự thật và luôn hướng về nhân tố mới.

Ních-xơn lại cho thấy mình là một kẻ “mặt dày mày dạn”. Trong cuộc điện thoại với Giôn-xơn hôm 3-11-1968, ông ta đã thề sống thề chết: “Trời ơi! Tôi nguyện không bao giờ làm bất kỳ điều gì!”.

Theo Rô-bớt Pa-ri (Robert Parry) viết trên Consortiumnews, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Clắc Clíp-phớt, một thành viên sáng lập CIA, lúc đó là một trụ cột của nền chính trị Hoa Kỳ, cảnh báo rằng tiết lộ việc Ních-xơn can thiệp vào đại sự sẽ làm rung chuyển rường cột của quốc gia. Băng ghi âm cho thấy, Clíp-phớt nói với Giôn-xơn: “Một vài chi tiết của vụ này sẽ gây sốc về bản chất tới mức tôi lo rằng, liệu việc vạch trần nó có tốt hay không vào lúc mà Ních-xơn thắng cử. Vụ này sẽ ném toàn bộ bộ máy của ông ta vào mối hoài nghi mà tôi cho là thù địch với các lợi ích tốt nhất của đất nước chúng ta”.

Commondream.org của Mỹ nhấn mạnh: Nói một cách khác, Clíp-phớt đã cảnh báo Giôn-xơn rằng, đất nước Hoa Kỳ sẽ không thể nuốt trôi một sự thật là tổng thống mà họ chọn ra lại là một kẻ bị cáo buộc phản nghịch, phải đưa ra xét xử. Dù còn hậm hực, Giôn-xơn đã quyết định không đưa ra công luận vụ của Ních-xơn và các cộng sự của ông ta.

Ngày hôm sau (5-11), vượt lên Hăm-phrây chỉ với 0,7%  số phiếu phổ thông, Ních-xơn thắng cử, trở thành Tổng thống thứ 37 của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.

Oái oăm thay, năm 1973, Kít-xinh-giơ được Giải Nobel Hòa bình do dàn xếp được một hiệp định hòa bình mà chính ông ta từng hiệp trợ Ních-xơn phá hoại vào năm 1968, trang commondream.org nhấn mạnh.

Quả báo

Từ khi Ních-xơn và Kít-xinh-giơ phá hoại kế hoạch thỏa thuận hòa bình của Giôn-xơn đến khi Kít-xinh-giơ quảng bá rùm beng về “hòa bình trong tầm tay” ngay trước cuộc bầu cử Tổng thống năm 1972, nhân loại đã tổn thất biết bao sinh mạng. Commondream.org thống kê, trong 4 năm này đã có thêm 20 nghìn lính Mỹ tử trận, hơn 100 nghìn lính Mỹ bị thương và hơn 1 triệu người Việt đã tử nạn.

4 năm ấy, Giôn-xơn sống trong dằn vặt. Báo chí thời đó cho hay, Giôn-xơn bị giày vò về cuộc chiến thảm khốc do chính ông ta gây ra. Cuộc chiến đã hủy hoại nhiệm kỳ tổng thống và đời hưu trí của Giôn-xơn.

Theo sách “Không hòa bình, chẳng danh dự, Ních-xơn, Kít-xinh-giơ và sự phản bội ở Việt Nam”, trang 237, chỉ vài tiếng sau khi đọc văn bản Hiệp định Pa-ri 1973 sắp được ký mà về nội dung không có gì mới so với dự kiến vào năm 1968 của mình, Giôn-xơn đã từ trần do một cơn đau tim.

Ác giả ác báo. Dù tái đắc cử, với một loạt thủ đoạn bẩn thỉu, Ních-xơn đã trở thành Tổng thống Mỹ đầu tiên phải từ chức trong ô nhục bởi vụ Oa-tơ-ghết (Watergate).

LÊ ĐỖ HUY (lược dịch)