Ông Mark Bowden, tác giả cuốn “Huế 1968” viết lời tựa cho cuốn sách. Chúng tôi xin trích dịch.

Có những lúc một trận đánh trong cuộc chiến tranh dài có thể trở thành một dạng rút gọn cho toàn cuộc chiến.

Khe Sanh, cuộc chiến kéo dài nhiều tháng của năm 1968, được Robert Pisor nêu trong cuốn sách này chính là một nỗ lực ngoan cố của Mỹ, nhằm giữ một căn cứ lính thủy đánh bộ (LTĐB) phía tây tỉnh Quảng Trị. Sau một cuộc tập kích khủng khiếp vào cuối tháng 1-1968, 6.000 LTĐB Mỹ đã bị đẩy vào hầm, chờ một cuộc tiến công lúc trở trời.

leftcenterrightdel
Westmoreland tại chiến trường Việt Nam. Ảnh tư liệu.

Thoạt đầu, ai cũng ngỡ rằng Khe Sanh có một tầm quan trọng chiến lược. Trong suốt 5 tháng rưỡi, bộ máy quân sự Mỹ đã hủy hoại các ngọn đồi và thung lũng xung quanh căn cứ Khe Sanh, một vùng gồm những bản làng miền núi và rừng rậm. Khe Sanh không thể được tiếp tế bằng đường bộ, nên sự sống còn của nó phụ thuộc vào yểm hộ đường không. Đã có khoảng 100.000 tấn bom, kể cả napan và 158.000 viên đạn pháo giội xuống, nhiều hơn bất cứ một khu vực có diện tích tương tự nào trong lịch sử chiến tranh.

Westy giăng bẫy...

Ném xuống rừng rậm Việt Nam các cảm biến hiện đại bậc nhất thời đó, bộ chỉ huy của tướng 4 sao William Westmoreland (Westy), tư lệnh quân đội Mỹ ở Việt Nam lúc bấy giờ bắt đầu thu thập các tin tức để cho rằng, có tới 20.000 quân đối phương đã tập hợp ở Khe Sanh. Westmoreland, vốn là một nhà lý thuyết tài ba, đã vận ngay óc phân tích của mình để giải thích: Đây chính là một điểm cao án ngữ Đường Hồ Chí Minh nổi tiếng và cũng là một bàn đạp để chuẩn bị cho cuộc “xâm lăng” Lào-nước chỉ nằm cách Khe Sanh 10 dặm về phía tây. Những viên tướng khác không nhận thấy như vậy. Chẳng hạn, đại tướng Maxwell Taylor, nguyên Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, đã giục Tổng thống Johnson rút LTĐB Mỹ khỏi Khe Sanh. Nhưng Westy lại tìm được cách thuyết phục Tổng thống Mỹ rằng Khe Sanh chính là một cuộc sát hạch vô cùng quan trọng về ý chí nước Mỹ. Ông ta, theo tác giả Pisor, rất bị kích động bởi cuộc tập trung binh lực của đối phương. Chiến lược thâm hậu của Westmoreland nhằm đánh bại cộng sản là “chiến tranh tiêu hao”, phải tiêu diệt càng nhiều lính của đối phương tới mức Hà Nội cuối cùng phải dừng bước. “Việt cộng”-Westmoreland nói-“thường tránh đối đầu trực diện. Còn ở đây, họ đã quyết định trụ lại và giao chiến. Đây là cuộc thử nghiệm lớn nhất của cuộc chiến tranh về vũ khí, trong khi Mỹ có một hỏa lực mạnh hơn bất kỳ dân tộc nào trong lịch sử nhân loại. Đây cũng là cơ hội để chứng tỏ việc dám đối đầu với quân đội Hoa Kỳ là vô ích đến nhường nào”.

Và... mắc bẫy

Nhưng, như vẫn xảy ra trong chiến tranh, đối phương đã có nhiều kế sách. Họ không hề bám lấy các phương thức cũ của việc tiến hành chiến tranh như viên tư lệnh chiến trường của Mỹ đã nhầm tưởng. Khi các lực lượng của Mỹ dồn hết tâm trí vào một Khe Sanh đầy ám ảnh, thì vào Giao thừa Tết Mậu Thân (31-1-1968), toàn thế giới rung chuyển vì hơn 100 thành phố, huyện lỵ ở khắp miền Nam cùng lúc bị tấn công. Huế thất thủ. Đây là thành phố lớn và là một trong những trung tâm tri thức và văn hóa của Việt Nam.

Westy phản ứng ra sao? Ông ta phủ định thực tế này. Và ông ta phủ nhận cả điều hiển nhiên là lính Mỹ đang đụng độ đẫm máu, quyết liệt suốt gần một tháng để giành lại thành Huế, với số quân sĩ bị thương nặng được nườm nượp đưa vào bệnh viện dã chiến ở Phú Bài (Huế). Đến lúc đó, Westmoreland vẫn cho cuộc tiến công Tết của đối phương chỉ là một nỗ lực nghi binh, đánh lạc hướng sự chú ý vào Khe Sanh, trong khi nó đã trở thành bước ngoặt của cuộc chiến tranh. Ông ta tiếp tục lên kế hoạch, tiếp tục chỉ huy theo hướng cuộc đụng đầu thực sự vẫn sẽ diễn ra ở Khe Sanh!

Westmoreland đã mắc câu. Tướng về hưu Marhsal, một sử gia có tên tuổi, cũng nghĩ vậy khi gọi Khe Sanh là “động tác giả” của Hà Nội. Tướng Lowell English, một trong những người chỉ huy LTĐB Mỹ ở Khe Sanh, gọi đây là một “cái bẫy” kéo quân đội Mỹ vào chỗ tiêu tốn một số lượng lớn nhân lực, vật lực một cách hoàn toàn phi lý.  

Viên tư lệnh chiến trường Mỹ đã bị Khe Sanh bắt hồn, trong khi trận chiến chính lại diễn ra ở một nơi khác. Việc Westy bị Khe Sanh ám ảnh hẳn đã làm các nhà lãnh đạo Hà Nội rất hài lòng. Khi mọi sự rõ ràng rằng cuộc tiến công mà ông ta đã dự báo không diễn ra, Westy đã tuyên bố chiến thắng! Westmoreland đã không chịu nhìn nhận, kể cả trong hồi ký được viết nhiều năm về sau, rằng Huế đã bị mất, rằng cuộc tiến công Tết của đối phương đã giành được nhiều thắng lợi.

Đã có một cuộc bao vây kiểu “vòng vây của tử thần”, một trận chiến diễn ra trong 6 tháng, gây tổn thất về lực lượng cho Mỹ. Sau một vài cuộc đụng độ quyết liệt với quân tinh nhuệ của đối phương, LTĐB Mỹ gia cố căn cứ của họ và bắt đầu đào hầm. Họ trụ lại trên đỉnh Khe Sanh sau nhiều tuần, nhiều tháng, cố sống sót qua các đòn tập kích hỏa lực bằng súng cối của đối phương. Chầu chực bên bờ vực của một cuộc tiến công được báo trước, họ đồng thời chứng kiến một cuộc pháo kích kéo dài với quy mô lớn nhất trong lịch sử…

Một tướng LTĐB nói: “Chúng tôi đã từng trải qua nhiều vùng giao chiến quyết liệt chống Nhật trong Chiến tranh thế giới thứ hai, như trận Tarawa (năm 1943), trận Pelehiu (năm 1944), hay trận Tinian (năm 1944)… nhưng tôi không nghĩ chúng tôi sẽ được yêu cầu phải giữ một căn cứ hết ngày này sang tháng khác, 31 ngày trong một tháng, 24 giờ liền trong một ngày, một trận chiến mà anh phải đương đầu trong suốt một nhiệm kỳ viễn chinh”.

Hội chứng Điện Biên Phủ

Tại đỉnh điểm của cuộc vây hãm, mọi thứ trở nên không thể chịu đựng nổi. 

“Nước thiếu và hầu hết các LTĐB Mỹ đều râu ria xồm xoàm”-Pisor viết-“Rất ít người trong số họ được tắm đều. Các hầm ngầm là nhà ngủ đều ẩm ướt, hôi hám, sặc mùi mồ hôi và nước tiểu. Bệnh tiêu chảy, bệnh thần kinh hoảng loạn, thức ăn thừa từ khẩu phần lính, những bãi nôn, những bàn chân thò ra, nấm mọc khắp nơi… Chuột chạy trên sàn bẩn, gặm nhấm các giá để đồ, giày, gặm cả ngón chân. Chúng kêu chít chít vì sợ hãi khi các cỡ súng lớn điểm hỏa, và khi chạy qua người các LTĐB đang ngủ, chúng còn cào lên mặt họ…”.

LTĐB Mỹ đào hầm, đào mãi để tránh cuộc tập kích bằng súng cối diễn ra không ngớt. “Nó gây cảm tưởng là anh đang đào mồ chôn chính mình”-một sĩ quan Mỹ cao cấp nói. Đã không có nhiều giây phút nhẹ nhàng. Tới cuối tuần đầu của tháng 2-1968, cứ 10 LTĐB Mỹ thì một người tử trận hoặc bị thương…

Những đợt sóng của các máy bay Mỹ ném mưa bom vào đối phương và những luồng tiếp tế đạn dược, nhu yếu phẩm Mỹ tuôn vào căn cứ trong vòng vây này đã bị ngăn chặn bởi những đám mây dày đặc của mùa mưa và trở thành mục tiêu cho vũ khí phòng không của đối phương ở Khe Sanh. Một chiếc C.130 về đến Đà Nẵng với 232 lỗ thủng trên vỏ máy bay. Trong một thời lượng là 6 tuần, không quân Mỹ chỉ có khả năng cấp hàng đủ cho 5 ngày thôi.

Như nhiều CCB Mỹ khác, những ai sống qua được địa ngục Khe Sanh luôn tự vấn mình: Tất cả những điều đã xảy ra ở đó nghĩa là gì? Vào tháng 6-1968 ấy, các đơn vị bộ binh Mỹ đến giải tỏa cho LTĐB Mỹ ở Khe Sanh hầu như không gặp cản trở. Quân đối phương bao vây căn cứ Khe Sanh đã biến đi không dấu vết.

Chính quyền Johnson, với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng mới là Clark Chlifford, ngày càng chán những lời phóng đại và những câu cãi bừa của Westy. Westmoreland đã bị “đá” lên thành tham mưu trưởng hội đồng tham mưu liên quân. Tướng Creighton Ambrams, người kế nhiệm Westy, đã nhanh chóng rút toàn bộ quân Mỹ khỏi đó. Trận Khe Sanh mà LTĐB Mỹ phải nếm trải là hình ảnh phóng to cho những ảo tưởng của Westmoreland.

Về tổng thể, sự chịu trận tại Khe Sanh của lực lượng LTĐB Mỹ là vô ích. Khe Sanh là một hình ảnh thu nhỏ của cuộc chiến tranh Việt Nam, vốn dĩ là một sự nghiệp lầm lạc, một chiến trường được chọn sai, một niềm tin bi kịch, và hoàn toàn lầm lẫn khi cho rằng Hoa Kỳ nhất thiết phải kinh qua cuộc chiến này mới chứng tỏ được giá trị của mình.

MARK BOWDEN

LÊ ĐỖ HUY (dịch)