Nhưng ở đỉnh cao leo thang chiến tranh của Mỹ ở Nam Việt Nam, Krulak đột ngột chủ trương “bình định”-một chiến lược bị Đại tướng Westmoreland, Tư lệnh bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam, xem là “thiếu dũng khí”.

Cha đẻ “tàu há mồm”

Victor Krulak sinh trưởng tại bang Colorado, Hoa Kỳ trong một gia đình Do Thái đến từ một vùng đất thuộc Nga hoàng. Trở thành sĩ quan tình báo tại Trung Hoa năm 1937, Krulak đã để mắt đến kiểu thuyền đổ bộ của quân Nhật lúc đó đang lăm le xâm nhập Thượng Hải. Krulak đã làm mô hình thuyền “tay ngai” này, rồi bàn bạc với công trình sư người Mỹ nổi tiếng Higgins về sàn di động thò thụt của nó. Higgins đã đưa một số yếu tố mô hình của Krulak vào kết cấu tàu đổ bộ cho bộ binh và xe quân sự LCVP (Landing Craft Vehicle Personnel), hay còn gọi là “tàu há mồm”.

leftcenterrightdel
Tướng Krulak (bên trái) và Tổng thống Mỹ Jonhson năm 1967.

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Krulak giành được 4 huân chương thứ hạng cao trong các chiến dịch nổi tiếng như Bougainville và Okinawa. Đầu tháng 11-1943, trong trận đánh tại đảo Choiseul thuộc quần đảo Solomon, tây nam Thái Bình Dương, Trung tá Krulak đã dẫn Tiểu đoàn dù LTĐB của mình đột kích trên mũi vu hồi, đối chọi với lực lượng quân Nhật đông gấp bội. Bị thương nhưng Krulak không rời vị trí. Tài chỉ huy và tinh thần chiến đấu của ông đã “mãi lưu danh trên những trang truyền thống sáng nhất của lịch sử hải quân Mỹ”, theo lưu trữ LTĐB Mỹ.

Lính tráng tặng cho Krulak biệt danh là “kẻ dữ dằn” vì tính cương trực đến mức bạo lực trong cả binh nghiệp lẫn đời thường của mình. Theo báo The New York Times, nhiều sĩ quan chấp nhận từ chức hơn là ở dưới quyền Krulak, nhưng nhiều LTĐB Mỹ lại sẵn lòng theo ông ta, kể cả đổ bộ “xuống địa ngục”.

Trong chiến tranh Triều Tiên, Krulak tham gia cả ba trận đánh nổi tiếng nhất: Trận Incheon, trận Seoul lần thứ hai và trận Hồ Trường Tân.

Những năm 1962-1964, Krulak làm cố vấn đặc biệt về chống nổi dậy cho Chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân Mỹ, tướng Maxwell Taylor. Trên cương vị này, Krulak có dịp làm cố vấn cho hai đời Tổng thống Mỹ. Krulak được cho là luôn cổ xúy chiến lược mới, chẳng hạn như chiến thuật “trực thăng vận” ở Việt Nam…

Cuối năm 1963, khi cùng đi công cán Việt Nam về, Krulak và một nhà ngoại giao Mỹ là Mendenhall đã có hai ý kiến ngược nhau về chính quyền Ngô Đình Diệm. Cụ thể, Krulak đặc biệt “ngợi khen” chế độ độc tài này, còn Mendenhall thì cực lực chỉ trích. Tổng thống Kennedy đã phải hỏi lại, liệu có phải hai viên quan “văn-võ” này vừa đi thăm hai nước khác nhau về không (!).

Sau khi Kennedy bị ám sát, tổng thống mới nhậm chức là Johnson đã lập tức cử Krulak sang Việt Nam vào tháng 12 năm 1963 để nghiên cứu kết quả của kế hoạch tung biệt kích vào miền Bắc mang mật danh OPLAN 34-hạt nhân của “cuộc chiến tranh bí mật” của Johnson chống Hà Nội.

Tháng 3-1964, Trung tướng Krulak được chỉ định làm tư lệnh LTĐB Mỹ ở Thái Bình Dương. Sự tín nhiệm này đã bộc lộ thành hình ảnh các Sư đoàn LTĐB 1 và 3 Mỹ được tàu chở quân LCVP, mà “cha đẻ” về ý tưởng là Krulak, ào ạt đổ bộ lên Đà Nẵng giữa năm 1965.

Sử dụng LTĐB khét tiếng trong Chiến tranh thế giới thứ hai và chiến tranh Triều Tiên, rồi đặt tên một bãi đổ bộ ở bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng là “bờ biển đỏ” (Red Beach), trùng với một địa danh trong trận Nhân Xuyên (Incheon), hẳn phe diều hâu Hoa Kỳ có định “lấy khước cầu may” trong ván cờ đô-mi-nô ở Đông Dương?

Khu vực hoạt động của LTĐB Mỹ là vùng chiến thuật I, nơi “đụng đầu” trực tiếp với miền Bắc Việt Nam. Với truyền thống “đánh trận mở màn” (tên một cuốn sách về LTĐB Mỹ của Krulak), sư đoàn 1 LTĐB Mỹ đã lập tức “so gươm” với Trung đoàn 1 Quân Giải phóng tại Vạn Tường (Quảng Ngãi) tháng 8-1965 trong cuộc hành binh Mỹ gọi là Starlite. Trận này có tên trong danh sách các trận đánh quân Mỹ bị thua trên chiến trường Việt Nam.

Chiến dịch “tìm-diệt” đầu tiên này hẳn đã có ảnh hưởng tới Bộ chỉ huy LTĐB Mỹ, khiến tướng Krulak khét tiếng dữ dằn, chuyển dịch sang chủ trương làm chiến tranh bằng “bình định”.

Ngay trong báo cáo tháng 12-1965, Tư lệnh thủy quân lục chiến Thái Bình Dương Krulak đã “báo bão” rằng, quân Mỹ không thể làm xói mòn Quân Giải phóng đến mức đối phương chấp nhận hạ vũ khí.

Krulak cho rằng chiến lược của Westmoreland chỉ “phung phí sinh mạng của Mỹ và hứa hẹn một cuộc chiến lâu dài, hủy hoại sinh lực, nhưng xác suất thành công lại nhỏ”... Ước lượng theo thông số của hai năm 1965-1966, Krulak dự toán Hoa Kỳ sẽ mất khoảng 175.000 quân để có thể làm giảm quỹ nhân lực trẻ của đối phương xuống 20%. “Nhân sự là nguồn lực mạnh nhất của Hồ Chí Minh”-Krulak kết luận-“và Hoa Kỳ không có cả bài bản lẫn kinh nghiệm để đương đầu với họ trên chiến trường này”.

Dưới “ánh sáng” của học thuyết “Vết dầu loang” của Krulak, LTĐB Mỹ đề xuất một chương trình gọi là “Trung đội công tác phối hợp”. Mỗi trung đội LTĐB Mỹ sẽ được phái xuống một ấp trong vùng chiến thuật I để tiến hành tuần tra, phục kích ban đêm. Các lính “Mỹ lết” này còn có nhiệm vụ phá hoại hạ tầng cơ sở của Mặt trận Giải phóng, tổ chức mạng lưới tình báo tại chỗ và huấn luyện lực lượng phòng vệ dân sự cho chính quyền Sài Gòn.

Tài liệu kinh nghiệm LTĐB Mỹ ở Việt Nam cho hay, với chiến lược tiêu hao, Krulak nghĩ rằng Westmoreland đã “mắc mưu Hà Nội”.

Nội bộ chia rẽ

Nhiều chỉ huy Mỹ chê bai sáng kiến “bình định” của lực lượng LTĐB. Westmoreland cảm nhận rằng bình định hẳn phải là trách nhiệm chính của chính quyền Sài Gòn: “Đơn giản là tôi không có đủ quân để triển khai tại mỗi ấp một trung đội Mỹ. Bố trí như thế khác nào xé lẻ binh lực ra và bộc lộ cho đối phương tiêu diệt từng bộ phận quân lực…”.

Tướng Harry Kinnard, Tư lệnh sư đoàn kỵ binh bay số 1 đặc biệt “chê”  LTĐB: “Tôi đã làm mọi cách để lôi họ (LTĐB Mỹ) ra trận, để bắt họ đánh nhau… LTĐB không biết tác chiến trên đất liền, nhất là chống lại du kích”.

leftcenterrightdel
Lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ lên Đà Nẵng giữa năm 1965 bằng “tàu há mồm” mà “cha đẻ” là Krulak. Ảnh: The New York Times.

Tướng đánh trận của Westmoreland là W.DePuy thì nói rằng: “LTĐB Mỹ sang đến Việt Nam rồi ngồi chơi, không làm gì cả. Họ tham gia vào “công cuộc chống nổi dậy” theo một cung cách rề rà, nhu nhược”.

Truyền thông Mỹ thì cho rằng, người lính trực tính Krulak đã tìm cách gặp Tổng thống Johnson để phản ánh thực tình ở Nam Việt Nam, nhưng Westmoreland hẳn có “tai mắt” ở Nhà Trắng để nghe bẩm báo về những cú “trèo lên đầu” như thế.

Trong hồi ký của mình, Krulak kể, vào năm 1966 đã khuyên Tổng thống Mỹ nên dùng viện trợ để “ngăn chặn dân chúng miền Nam khỏi ảnh hưởng cộng sản”, và “cắt tiếp tế cho miền Nam” bằng phong tỏa miền Bắc về đường không và đường thủy. Kết quả là “Mr.Johnson đứng dậy, đặt tay lên vai tôi và kiên quyết đẩy tôi ra phía cửa”.

Nhưng Krulak vẫn giữ vững tinh thần “tiền quân đánh trước”. Vào năm 1967, Krulak nói với Tổng thống Johnson rằng nếu Mỹ không thay đổi cách tiếp cận cuộc chiến tranh, thì Johnson sẽ “thua cuộc chiến tranh này và thất cử trong cuộc bầu tổng thống tới”. Theo Nhật báo phố Wall ngày 13-11-2010, đây đâu phải là điều Johnson muốn nghe. Nên cái giá “chết người” của những lời nói thực này làm Krulak mất lon tướng bốn sao và bị Johnson gạch tên khỏi chức Tổng chỉ huy LTĐB Hoa Kỳ, chức được cho là Krulak xứng đáng được hưởng vào năm 1968. Krulak phải về hưu trong cơn bão “rụng sao” năm Mậu Thân, gồm những “tên tuổi” như Westmoreland, McNamara…

Sau khi về hưu, Krulak phụ trách một cột báo cho tờ Copley. 

Sau khi Krulak chết, nhiều bài viết trên các báo Mỹ đánh giá ông ta là người có dũng khí hơn thượng cấp-những kẻ đã a dua với chính sách sai lầm của chính quyền Mỹ lúc đó. Nhưng không thấy nguồn nào nhấn mạnh rằng vì không thực hiện chiến lược bình định “Vết dầu loang” nên Hoa Kỳ mới phải bỏ cuộc ở Việt Nam.

Victor Krulak có thể đã tự an ủi, khi con trai là Charles Krulak lên tới Đại tướng, Tổng chỉ huy LTĐB Hoa Kỳ (1995-1999).

Bạn đọc có thể thấy rằng, Victor Krulak cũng như LTĐB Mỹ trực diện đối đầu với Quân Giải phóng, hiểu rõ bản chất của cuộc chiến tranh Việt Nam là dùng sức mạnh quân sự Mỹ không thể thắng đối phương. Thật vậy, cấp trên của Krulak, Tổng tư lệnh LTĐB Mỹ (1964-1967) là tướng Greene thời đó cũng cho rằng dù Hoa Kỳ “loại được khỏi vòng chiến đấu một số đơn vị quân đội Việt Nam ở miền Nam đi nữa thì vẫn thua cuộc chiến tranh này”.

Tuy vậy, kiểu chiến lược bình định thay vì tác chiến bằng các binh đoàn mà Krulak và cả Greene từng cổ xúy và được áp dụng bởi tướng Abrams, người thay thế tướng Westmoreland, cũng không giúp được Mỹ khỏi thất bại ở Việt Nam. Nó chỉ làm giảm khả năng một số đông lính Mỹ bị tiêu diệt trong điều kiện đại quân Mỹ đang rút chân khỏi Nam Việt Nam, như một kiểu “đánh cờ tàn” mà thôi.

LÊ ĐỖ HUY (dịch)