Hôm ấy, tôi có cầm đến lớp học một quyển sổ ghi chép cũ mà bìa sổ được bọc bằng một mảnh ni lông đặc biệt. Mảnh ni lông màu xanh lá cây ấy bọc bìa quyển sổ nhật ký ghi chép ở chiến trường, tôi cắt ra từ một túi đựng gạo chúng tôi vẫn thả trôi trên sông trong những năm kháng chiến. Bây giờ, nó như một kỷ vật chứa đựng bên trong nhiều câu chuyện mà hôm nay kể lại có lẽ ít ai ngờ tới…

…Tiểu đoàn bộ chúng tôi vừa ém quân vào một thung lũng sâu cạnh thượng nguồn sông Tà Vệ (miền tây Thừa Thiên-Huế) sau một chiến dịch dài ngày, đêm ấy tôi, Trình và Triển được lệnh ra sông vớt gạo. Chúng tôi đang băn khoăn tại sao lại ra sông vớt gạo vào ban đêm thì anh Bảo, Trung đội trưởng nói: “Các cậu cứ đi đi, ra chỗ đó có trợ lý hậu cần tiểu đoàn đón rồi”.

leftcenterrightdel
Minh họa: Nguyễn Hiếu 
Bây giờ kể lại câu chuyện nửa đêm ra sông Tà Vệ vớt gạo, tôi nhớ lại suốt gần một tuần tiểu đoàn bộ chúng tôi ém quân về thung lũng bên cạnh sông Tà Vệ trong điều kiện thiếu thốn lương thực, thực phẩm. Đơn vị sau một chiến dịch dài hao tổn quân số nhiều, thương binh, bệnh binh đã chuyển về trạm xá trung đoàn và các bệnh viện tuyến trên, vậy mà gạo cũng không đủ ăn. Những đồng chí bị sốt rét điều trị tại đơn vị thậm chí cũng phải ăn cháo rau môn thục. Đồng chí trợ lý hậu cần nói lại với chúng tôi mấy ngày qua vận chuyển lương thực trong đường rừng bị địch phong tỏa, phục kích. Có những gùi gạo về đến đơn vị còn thấm đẫm máu bộ đội. Bị phục kích đường bộ gắt quá, hậu cần trung đoàn đành chọn cách thả gạo trôi theo sông Tà Vệ. Trong một lần gạo trôi qua gần chân điểm chốt của địch, trên cao chúng phát hiện thấy và nghi ngờ, chúng xả súng bắn các bì tải gạo chìm hết xuống đáy sông. Hình như địch phát hiện được ta vận chuyển lương thực, thực phẩm bằng cách thả trôi trên sông nên chúng cắt nhau thay phiên phục kích. Cứ thấy các bì tải hoặc bất cứ cái gì trôi trên sông mà chúng nghi ngờ là chúng xả súng bắn tới khi chìm hẳn. Vì vậy hậu cần trung đoàn lại thay đổi thời gian, thả gạo vào ban đêm…

Đêm ấy chúng tôi vớt được gần 10 bì tải gạo. Bốn anh em chuyển về ban hậu cần tiểu đoàn thì trời cũng sắp sáng, ai cũng bơ phờ nhưng vẻ mặt thật vui. Mỗi bì tải 50kg gạo, không bì tải nào bị xây xước hoặc thủng. Những đêm sau đó, khi chưa bị địch phát hiện tiếp, chúng tôi vẫn cắt cử nhau ra sông vớt gạo. Mùa khô nước sông không lớn, nhưng vẫn có những bì tải khi trôi rơi xuống thác hoặc va vào đá bị rách, bị thủng lỗ nhỏ nhưng có bì tải vẫn về được đến bến. Phải công nhận lớp ni lông bên trong lớp bì tải vừa dai lại vừa bền. Vượt qua bao nhiêu khúc khuỷu, ghềnh thác, có những bao lớp vải bì tải bên ngoài rách hoặc xơ xác nhưng lớp ni lông vẫn không rách. Loại ni lông đựng gạo là loại dày, mềm, dai và ít “lão hóa”. Sau khi dùng hết gạo, những túi ni lông này được sử dụng rất nhiều tiện ích trong sinh hoạt của bộ đội, nhất là dùng đựng nước trên chốt. Bộ đội chỉ cần đào một cái hố sâu rồi đặt túi ni lông xuống là có thể có một “bể nước” trên trận địa chốt. Có lúc vội, chiến sĩ chỉ cần đóng 4 cọc xong buộc túm túi ni lông vào cũng có thể thành “bồn nước nổi”. Tuy nhiên trường hợp này ít làm vì bồn nước dễ bị mảnh đạn pháo địch xuyên thủng.

Sau một thời gian địch phục kích trên đường rừng không gặp bộ đội ta vận chuyển gạo nữa, lại bị bộ đội ta tạo hiện trường giả phục kích lại, bị thương vong nhiều nên chúng nghi ngờ. Từ những bì gạo trôi trên sông vào ban ngày, đến phục kích đường rừng vẫn không phát hiện được con đường ta vận chuyển lương thực nên bọn địch nống quân ra, tăng cường trinh sát. Cuối cùng chúng cũng phát hiện ta thả trôi gạo vào ban đêm. Tuy vậy, không phải dễ để chúng xả súng vào những bì tải gạo vì ban đêm rất khó phát hiện. Chúng thường chọn những đoạn sông ngoặt, hẹp, các bì tải gạo bị dồn lại để bắn chìm thì đối diện với chúng, bên bờ sông này ta cũng bố trí bộ đội sẵn sàng “đấu súng”. Vì vậy cuộc chiến đấu bảo vệ những bì tải gạo trôi trên sông vào ban đêm vẫn xảy ra quyết liệt, một mất một còn. Những bì tải gạo vẫn về tới tay bộ đội cho dù phải vượt qua bao nhiêu ghềnh thác và đạn thù…

Năm tháng qua đi, có những câu chuyện đã thuộc về dĩ vãng, riêng tôi vẫn thường nâng niu những kỷ vật của mình còn lại sau chiến tranh. Cho dù những kỷ vật ấy rất nhỏ nhưng bản thân nó chứa đựng những câu chuyện thần kỳ của những người lính cầm súng. Nó còn gợi lại, nhắc nhở tôi một thời không thể nào quên mà thế hệ chúng tôi đã đi qua, đã chiến đấu, đã gắn mình vào số phận bi tráng của dân tộc.

Thiếu tướng HỒ ANH THẮNG