Nhấp ly chè xanh, nhìn vào di ảnh anh trai là Bùi Huy Tục hy sinh năm 1954, ông Xuân kể: Năm 1968, tôi đang học lớp 10, nghe mọi người nói tình hình chiến sự trên các mặt trận ngày càng ác liệt, lúc ấy, tôi chỉ có suy nghĩ xin vào chiến trường cầm súng trả thù cho anh.

Bùi Huy Xuân nhập ngũ vào Đại đội 2, Trung đoàn 22B, đóng ở Thanh Hóa. Sau một thời gian huấn luyện, đơn vị ông hành quân vào Thừa Thiên-Huế, nằm trong đội hình Trung đoàn 9 (Trung đoàn Cù Chính Lan). Trận đầu tiên ông tham gia là tiến công vào cao điểm 400 ở Tà Lương (Thừa Thiên-Huế). Cả đơn vị phát động thi đua, quyết tâm đánh hiệu quả, diệt được nhiều địch… Sau 7 ngày bao vây, ta chiếm được nhiều vị trí phòng ngự then chốt, địch điều trực thăng đổ thêm quân chi viện để giữ cao điểm 400. Từng đợt hỏa lực của địch bắn xối xả làm dây mìn điện bị đứt, phá vỡ phương án chiến đấu của đơn vị. Lúc này, ông Xuân không ngại hy sinh, dũng cảm ôm súng tiến công. Kết thúc trận đánh, đơn vị tiêu diệt được hàng trăm tên địch, riêng ông được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ. Từ đó, cán bộ, chiến sĩ đặt cho ông biệt danh “Xuân-Dũng sĩ diệt Mỹ”.

leftcenterrightdel
Cựu chiến binh, thương binh Bùi Huy Xuân cùng vợ xem lại những kỷ vật chiến tranh.

Tháng 3-1969, ông Xuân ra Quảng Bình học lớp trinh sát, đặc công và sử dụng súng B41. Học xong trở về đơn vị tham gia Chiến dịch giải phóng Đường 9-Nam Lào. Đơn vị ông phối thuộc đánh ngăn chặn địch tiếp tế vũ khí từ Campuchia và Lào ở Ngã ba Đông Dương về Việt Nam. Trận đánh tháng 3-1971 vào Huội Coòng thuộc tỉnh Salavan (Lào), nơi có tiểu đoàn địch đang hoạt động. Đơn vị cử ông và đồng chí Quế đi trước trinh sát. Ông Xuân mang súng B41, ông Quế mang súng B40 cùng 9 quả đạn. Sau khi nắm rõ vị trí địch bố trí hỏa lực, lô cốt và sở chỉ huy…, ông báo cáo về đơn vị. Ông Xuân nhận được lệnh sử dụng hỏa lực phá cửa mở để bộ binh tiến vào. Hai ông lấy phần tử bắn vào sở chỉ huy địch. Tên cố vấn Mỹ chết, địch hoang mang chạy tán loạn, bị ta tiêu diệt gần hết. Khi trở về đơn vị, tai của hai ông bị chảy máu trong nhưng tinh thần chiến thắng làm cả hai quên đi đau đớn.

Giữa năm 1971, đơn vị tham gia đánh chặn xe của địch trên đường 23 thuộc Pắc Xoòng, tỉnh Salavan (Lào). Ông Xuân tham mưu cho chỉ huy chọn nơi đất yếu bố trí mìn rồi ướm vết xích xe tăng để nghi binh. Đến chiều, một đoàn xe gồm xe tăng, xe bọc thép và xe vận tải đi qua. Chiếc xe tăng đi đầu trúng mìn bốc cháy, cả đoàn xe khựng lại. Ông Xuân đang giữ súng B41 được lệnh bắn vào những xe còn lại, khói lửa bốc nghi ngút, nhiều tên địch bị tiêu diệt, số ít sống sót chạy nháo nhác. Kết thúc trận đánh, đơn vị được cấp trên khen thưởng, ông Xuân được tặng thưởng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ; Dũng sĩ diệt xe tăng, xe bọc thép.

Đầu năm 1973, ông Xuân đang cùng quân ta và nhân dân các bộ tộc Lào truy quét địch ở Pắc Xế (Lào) thì bị thương lần thứ hai, một mảnh đạn găm vào thái dương. Thời điểm này, Hiệp định Paris vừa ký kết, đơn vị cho ông Xuân ra Bắc điều dưỡng. Trở về đời thường, mỗi lần trái gió trở trời, vết thương tái phát khiến người đau ê ẩm, ông lại nhớ lời dạy của Bác Hồ: “Thương binh tàn nhưng không phế”. Ông quyết tâm học nghề thợ mộc, từ một thợ đi làm công, ông tích góp tiền mở nhà xưởng, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều con em địa phương có thu nhập ổn định. Khi các con đã lớn và có của ăn của để, ông nghỉ ngơi sum vầy với con cháu và thường xuyên giúp đỡ những gia đình đồng đội có hoàn cảnh khó khăn vươn lên thoát nghèo.

Bài và ảnh: LÊ TƯỜNG HIẾU