Thiếu tá, CCB Đào Xuân Đán, nguyên Trưởng ban Tuyên huấn Sư đoàn 323, Quân khu 3 rưng rưng xúc động khi nhớ về Anh hùng LLVT nhân dân, liệt sĩ Hoàng Kim Lếnh (bí danh Hoàng Lếnh, Hoàng Quang Oanh), nguyên Trợ lý tác chiến Tiểu đoàn 2 (V25), Mặt trận 44 Quảng Đà (nay là Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 971, Bộ CHQS TP Đà Nẵng).

Lần về phép đầu tháng 8-1976, thực hiện di nguyện của đồng đội, ông Đào Xuân Đán đã tìm gặp và trao cuốn nhật ký của liệt sĩ Hoàng Kim Lếnh cho gia đình anh tại thôn Mỹ Hào, xã Ngọc Liên, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Là một trong những nhân chứng còn sống hiểu về đồng đội nhất, qua lời kể của ông Đán và những dòng lưu bút mà Hoàng Kim Lếnh ghi lại trên chiến trường, tấm gương chiến đấu dũng cảm của anh hiện lên sống động...

“Ngày 10-7-1967, ngày đầu tiên trong đời phải xa gia đình, đóng quân ở huyện, một tháng sau đó hành quân rồi vào chiến đấu ở Hố Dầu, Quảng Ninh bắt đầu những năm tháng không thể nào quên”-đó là những dòng đầu tiên chàng trai trẻ Hoàng Kim Lếnh, khi ấy chưa tròn 18 tuổi, hăm hở viết trên đường ra trận.

Trên chiến trường, tranh thủ những phút rảnh rỗi, Hoàng Kim Lếnh ghi nhật ký. Hơn 100 trang viết lúc vội vàng, lúc ngay ngắn cho thấy không phải lúc nào anh cũng có phút yên bình để viết. Từng câu chữ hay nét vẽ trên giấy pơ-luya dù đã phai màu theo thời gian như thước phim sinh động về cuộc sống, chiến đấu của những người lính nơi chiến hào. Ở đó là những khó khăn, gian khổ, là khoảnh khắc kiêu hãnh chiến đấu trước bom đạn kẻ thù hay phút sinh ly tử biệt nhưng không hề có dòng nào thể hiện sự bi quan, lo lắng. Mà đôi khi người đọc lại bắt gặp những bài thơ, câu hát, bông hoa hay hình vẽ sinh động thể hiện niềm lạc quan của người viết. Và một chiến trường Quảng Đà hiện ra khốc liệt mà oai hùng...

Tháng 11-1968, Hoàng Kim Lếnh được biên chế về Tiểu đoàn 140, Mặt trận Quảng Đà. Trên cương vị là Tiểu đội phó rồi Tiểu đội trưởng, anh cùng đồng đội làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí, đạn dược từ hậu cứ xuống đồng bằng và vận chuyển lương thực, thực phẩm từ đồng bằng về hậu cứ. Các anh phải tự mang vác tất cả trên đôi vai của mình. Bất chấp máy bay địch oanh tạc, đánh bom, pháo; rải chất độc hóa học, càn quét, phục kích, gài mìn... Hoàng Kim Lếnh luôn hoàn thành nhiệm vụ được giao. Anh viết: “Tháng 3-1969: Bom pháo hết sức căng thẳng và ác liệt. Chúng tôi toàn ngủ dưới hầm. Cứ ít ngày là có người hy sinh. Mặc dù ác liệt, đơn vị vẫn tiếp tục nhiệm vụ. Có ngày, đi lấy gạo, chết hụt 4-5 lần… Tình hình ngày càng căng, lương thực thiếu trầm trọng, cả ngày chỉ hai bữa với mỗi bữa một bát cơm, có ngày hai bát cháo. Không những thế, biệt kích lại đổ lên núi nhiều, đơn vị tôi được phân công tuần tra cảnh giới và chốt giữ khu vực dốc Ông Thủ. Khu vực này suốt ngày bom tọa độ và pháo bầy. Trước kia ở đây cây cối mọc um tùm, người đông vui nhưng chỉ sau một thời gian ngắn đã trở nên đổ nát tiêu điều. Nếu bốc nắm đất ít nhất cũng có 1/3 là sắt thép...”.

leftcenterrightdel
CCB Đào Xuân Đán (giữa) kể về anh hùng, liệt sĩ Hoàng Kim Lếnh. Ảnh: NGUYỄN TÁM

Theo lời kể của ông Đán, dù thân hình gầy yếu nhưng Hoàng Kim Lếnh bao giờ cũng gương mẫu, giúp đỡ các đồng chí khác, xung phong mang vác gấp đôi để hoàn thành chỉ tiêu của đơn vị giao. Có đợt cao điểm đi gùi hàng, leo dốc Ông Thủ, vòng xuống gùi đạn, vòng lên gùi gạo trung bình mỗi tháng anh vận chuyển từ 2.000 đến 2.500kg, là một trong hai người của tiểu đoàn được tặng danh hiệu “Kiện tướng mang vác”. Cũng trong thời gian này, tiểu đội do anh chỉ huy được giao nhiệm vụ chốt điểm trên dốc chống địch đổ bộ về hậu cứ, nơi có kho vũ khí của ta tại Thành Mỹ. Trong một tháng ròng, tiểu đội đã nổ súng chiến đấu nhiều trận và tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Cá nhân Hoàng Kim Lếnh tiêu diệt được 15 tên lính Mỹ và được tặng thưởng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp 1.

Hoàng Kim Lếnh luôn có tinh thần vượt khó, bất chấp nguy hiểm, chủ động đánh địch, mở đường, kịp thời phục vụ các đơn vị chiến đấu giành thắng lợi. Đến cuối năm 1971, anh được điều về Tiểu đoàn 2, đảm nhiệm các chức vụ Trung đội trưởng, Đại đội phó rồi Trợ lý tác chiến của tiểu đoàn. Tháng 1-1973, Hiệp định Paris về lập lại hòa bình, chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam được ký kết. Tuy nhiên, kẻ địch dường như không tôn trọng những gì đã cam kết. Chỉ vài ngày sau đó, chúng tổ chức gây hấn, lấn chiếm vùng giải phóng của ta. Viết về trận đánh mà anh đã chỉ huy đơn vị đẩy lui những đợt tấn công tái chiếm của địch ở Châu Ký-xóm nhỏ nằm trên gò đất của xã Xuyên Hòa, tỉnh Quảng Đà từ ngày 29-1 đến 1-2-1973, Hoàng Kim Lếnh ghi:

“Cuộc chiến đấu kéo dài, tiếng súng nổ như bắp rang... Tôi nghe tiếng chửi của bọn chỉ huy thúc lính lên. Còn chúng tôi chiến đấu đã hơn bốn tiếng liên tục, đạn gần hết, chỉ còn mỗi người một băng, súng chống tăng B40 đã hết mà địch vẫn còn bâu như đỉa đói.

Chúng dùng xe tấn công rồi cho bộ binh mò vào, tình hình cực kỳ nguy hiểm. Ngân, Tờ, anh Thâm đã hết đạn, chỉ còn quả lựu đạn cuối cùng, khi ném ra khỏi tay thì hy sinh. Lợi dụng tình thế đó, bọn chúng đã tiến vào chốt Châu Ký.

Lúc này tôi chỉ còn một băng đạn và bốn quả lựu đạn. Bọn địch vào cách tôi 50m, tình thế rất hiểm nghèo. Tôi quyết định chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Tôi vừa bắn vừa ra hiệu cho Sáu và T. lợi dụng bờ cao lui về sau. Thấy chỉ còn một súng ở một hướng bắn, địch dựa vào xe tiến tới. Tôi lui về đưa cho Sáu hai trái lựu đạn, nói ta thà hy sinh chứ quyết không để chúng làm nhục đến thân thể. Giữa lúc gian nguy, tôi sực nhớ tới ba quả pháo hiệu mà đơn vị giao cho để khi cần báo cho đơn vị biết. Tôi suy nghĩ giây lát rồi lấy một quả màu đỏ ra. Tôi giật mạnh chốt quả pháo hiệu, chếch về hướng cơ quan chỉ huy. Sau 5 phút khi bắn quả pháo hiệu, tình thế vẫn căng, địch càng vào gần hơn.

Tôi ngắm kỹ, bóp từng viên đạn. Bị bất ngờ, chúng ùa nhau chạy và tôi cũng vừa hết đạn. Tôi ra hiệu cho T. và Sáu lui về sau rồi giật quả pháo hiệu thứ hai… Lợi dụng lúc bọn chúng còn lúng túng và cối của cấp trên chi viện, chúng tôi vượt đồng nước rút lui về vùng 7 Xuyên Khương. Đạn xe của địch đuổi theo líu chíu. Giữ chốt bốn ngày ròng rã, chúng tôi đã về gặp đơn vị…”.

Trận này, trung đội của anh đã đánh bại 8 đợt tiến công của địch, tiêu diệt hơn 60 tên nhưng buộc phải lui quân nên Hoàng Kim Lếnh vẫn cảm thấy mình chưa hoàn thành nhiệm vụ. Trong nhật ký, anh viết đầy tiếc nuối, hạ quyết tâm làm tốt hơn trong những lần gặp địch sắp tới. Và rồi, ngày định mệnh đã đến.

leftcenterrightdel
Trang nhật ký của liệt sĩ Hoàng Kim Lếnh. Ảnh chụp lại

Đêm 26-7-1974, đơn vị tổ chức tập kích vào cứ điểm Giáng La, Điện Thọ. Hoàng Kim Lếnh được giao nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường và phụ trách trinh sát, lên sa bàn luyện tập cho tiểu đoàn tiêu diệt cứ điểm. Đúng 2 giờ sáng, đơn vị nổ súng. Địch chống trả quyết liệt. Đại đội trưởng và Chính trị viên Cao Xuân Màu hy sinh, tiểu đoàn giao nhiệm vụ cho đồng chí Lếnh xuống chỉ huy Đại đội 3 đánh mũi thọc sâu tiêu diệt vị trí chỉ huy, tổng đài của địch. “Tôi lúc đó là Chính trị viên phó Đại đội 1, thê đội dự bị của tiểu đoàn tiếp tục cùng anh Lếnh và anh em còn lại của Đại đội 3 tăng cường mìn định hướng, bộc phá mở cửa đánh vào trung tâm. Đến 5 giờ, ta làm chủ cứ điểm Giáng La, diệt gọn 1 đại đội bảo an của địch, thu nhiều vũ khí, trang bị. Anh Lếnh bị thương vào đùi, bụng, đầu và tôi cũng bị thương, được đưa về đội phẫu tiền phương ở đầu cầu Kỳ Nam. Vết thương quá nặng, bác sĩ phải cắt bỏ đến đùi chân phải của anh. Do điều kiện lúc bấy giờ, vết thương bị nhiễm trùng uốn ván, hoại tử sinh hơi, Hoàng Kim Lếnh đã hy sinh ngày 2-8-1974”-CCB Đào Xuân Đán ngậm ngùi nhớ lại.

Tháng 7-2008, cùng với gia đình liệt sĩ Hoàng Kim Lếnh, ông Đán trở lại chiến trường xưa, tìm kiếm và đưa được hài cốt liệt sĩ về an táng tại nghĩa trang quê nhà. Sau này, ông cùng nhiều đồng đội từng chiến đấu tại Tiểu đoàn 2 đã phối hợp với các cơ quan chức năng lập hồ sơ đề nghị công nhận danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho liệt sĩ Hoàng Kim Lếnh. Ngày 9-10-2014, Chủ tịch nước đã ký Quyết định số 2557/QĐ-CTN truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho liệt sĩ Hoàng Kim Lếnh.

SONG THANH - VĂN TÁM