Với sự giúp đỡ của gia đình và bà Vũ Thị Lui, người yêu của liệt sĩ Trần Minh Tiến, năm 2005, những trang nhật ký chiến trường của liệt sĩ Trần Minh Tiến đã được biên soạn, xuất bản với tựa đề “Trở về trong giấc mơ”; năm 2024 được tái bản, bổ sung. Năm 2021, cuốn sách thứ hai “Những lá thư tình đi qua chiến tranh”, tập hợp 109 lá thư của Trần Minh Tiến viết cho người yêu, được xuất bản. Sau khi tiếp nhận từ phía Hoa Kỳ những trang ghi chép của liệt sĩ Trần Minh Tiến, ban biên soạn đã bổ sung, hoàn chỉnh và xuất bản cuốn sách “Cuộc đời còn mãi” tháng 11-2025.
Chuyện tình đôi trai tài, gái sắc
Anh là Trần Minh Tiến sinh năm 1945, trong một gia đình dân nghèo thành thị. Trong cải cách ruộng đất, gia đình anh được chia một gian nhà kho rộng chừng 10m2, cả nhà gồm 4 người sống trong đó. Cha của anh Tiến đau yếu luôn, một mình mẹ mở hàng nước và gánh cơm bình dân xoay xở qua ngày. Cậu bé Tiến phải đi bán kem, lạc rang, làm thuê... để phụ giúp mẹ và có tiền tự mua sách vở. Bù lại, Tiến học giỏi và đặc biệt rất có năng khiếu văn nghệ-thể thao.
Khi là học sinh cấp hai, Tiến đã nổi tiếng hát hay và là hậu vệ xuất sắc, “linh hồn” của đội bóng Trường cấp 2 Hà Cầu (nay là Trường THCS Lê Hồng Phong, phường Hà Đông, TP Hà Nội). Những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, đội bóng này từng “làm mưa làm gió” không chỉ ở Hà Đông mà còn ở cả Hà Nội. Cũng chính từ đội bóng này đã cung cấp một lứa cầu thủ giỏi cho đội tuyển bóng đá của tỉnh Hà Tây thời đó.
Năm 1963, Trần Minh Tiến được tuyển vào bộ đội. Sau 3 tháng huấn luyện chiến sĩ mới, anh được về Sư đoàn 308, nhận nhiệm vụ là cầu thủ trong đội bóng của sư đoàn. Đại tá Kiều Hữu Thuần, nguyên Phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Hà Tây (cũ) thông tin: Năm 1965, khi đội bóng của Sư đoàn 308 giải thể, Trung đội trưởng Kiều Thuần được lệnh tiếp nhận một số chiến sĩ về đơn vị, trong đó có Trần Minh Tiến. Ông cho biết: “Đó là một thanh niên người tầm thước, da ngăm đen, thân hình chắc nịch, tính sôi nổi, hay hát và hay cười. Cậu ấy có chiếc răng khểnh rất duyên, thật tự nhiên và thoải mái trong giao tiếp nên ai cũng mến”. Tiến được biên chế vào Trung đội 1, Đại đội 2, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 102 (Trung đoàn Thủ Đô).
Còn chị là Vũ Thị Lui (thường gọi là Lưu Liên), ít hơn anh một tuổi. Chữ “Lui” là dựa theo phiên âm “Lu-i”-tên một vị vua của nước Pháp-do người cha yêu mến con gái “rượu” đặt cho. Ông có kiến thức Tây học, là nhà tư sản giàu có ở Hà Đông. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nhiều người trong gia đình chị Lưu Liên đã đi theo cách mạng. Ông bà ngoại của chị là cán bộ điệp báo trung kiên, cả hai đã hy sinh cùng một tháng trong khi làm nhiệm vụ và đều được tặng Huân chương Chiến công.
Thời trẻ, chị Lưu Liên rất thông minh, xinh đẹp, múa giỏi và hát hay. Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dù đã được biên chế là cán bộ kế toán của Xí nghiệp Ươm tơ huyện Hoài Đức nhưng thi thoảng chị vẫn làm diễn viên của Đoàn Văn công xung kích tỉnh Hà Tây.
Hoàn cảnh đôi bên không “môn đăng hộ đối”, gia đình nhà gái ngăn cấm và phản ứng quyết liệt bởi định kiến xã hội; lại đang trong thời chiến, kẻ ở người đi, sống chết chưa biết thế nào, nhưng anh lính trẻ mê bóng đá Trần Minh Tiến và cô văn công Lưu Liên vẫn tha thiết yêu nhau.
Người chiến sĩ quả cảm
Trần Minh Tiến đã ghi chép rất nhiều trong khoảng thời gian mới nhập ngũ và nhất là giai đoạn hành quân đi B. Những trang nhật ký mở ra từ ngày 21-11-1966 và khép lại vào ngày 28-5-1968. Trước khi hành quân vào chiến trường miền Nam, anh gửi những cuốn sổ tay đã viết về nhà cho người yêu cất giữ. Phần còn lại đã được đồng đội của anh gìn giữ và trao lại cho chị Lưu Liên sau khi anh hy sinh.
Đó là những tháng ngày Tiến cùng đơn vị luyện tập tại Tam Đảo. Bộ đội ta phải tập luyện đeo ba lô nặng và leo núi Tam Đảo nhiều lần là để cho quen, sau này vượt Trường Sơn không bỡ ngỡ. Mà đâu chỉ có leo núi liên tục mấy tháng trời, còn phải tập đánh trận như thật nữa. “Hôm qua, đi 11 giờ liên tục thì đến bến đò Phan Lương. Đây là nơi giáp ranh 3 tỉnh nên có phương án giả định “địch” đổ bộ trực thăng xuống. Đơn vị lại đặt ba lô tổ chức đánh suốt đêm. Tiếng bộc phá nổ giòn, hòa lẫn tiếng la hét và tiếng súng đạn hơi, làm cả khu rừng rộng tới 3km rộn hẳn lên trong đêm vắng. Bóng những cô gái dân quân tải thương chạy ngược xuôi. Đánh xong, tiếp tục chơi một vố đeo ba lô vận động 23km xuống phía cầu Bâm để đánh “địch” tiếp viện từ Vĩnh Phúc lên. Người lúc này vừa đói, vừa mệt, vừa buồn ngủ, vừa mỏi chân, vừa mỏi vai...” (nhật ký ngày 4-12-1966).
Trong nhật ký, Trần Minh Tiến đã dành nhiều trang kể về những ngày nắng cháy thịt da, những đêm mưa tầm tã, rét tái tê, đơn vị của anh ai cũng đeo nặng, hành quân liên tục hàng trăm cây số. Tới nơi tập kết cũng không được nghỉ ngơi mà phải đào hầm hào, dựng lán trại, học tập chính trị... thậm chí còn lao vào những trận chiến giả định với nhiều tình huống ác liệt. Giữa tháng 3-1968, đơn vị của Trần Minh Tiến chính thức nhận lệnh đi B. Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, địch điên cuồng phản kích, Trần Minh Tiến đã anh dũng hy sinh tại cao điểm 202, làng Cát, Khe Sanh, Quảng Trị.
Còn mãi với thời gian
    |
 |
| Sách “Cuộc đời còn mãi” phát hành tháng 11-2025. |
Nhờ sự nhiệt tình của người thân, đồng đội và sự giúp đỡ của một số nhà ngoại cảm, 15 giờ ngày 7-5-2008, một phần hài cốt của liệt sĩ Trần Minh Tiến đã được tìm thấy cùng di vật là chiếc đèn 3 pin (quà tặng của chị Lưu Liên cuối năm 1965). Ngày 8 và 9-5-2008, lễ truy điệu và an táng liệt sĩ Trần Minh Tiến được tổ chức long trọng tại Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Đường 9 (Đông Hà, Quảng Trị).
Tháng 6-2023, như một sự hữu duyên, Tổ chức “Trái tim người lính” cùng Trung tâm Việt Nam và Lưu trữ (VNCA) tại Đại học Công nghệ Texas (Tech University) của Hoa Kỳ đã tiến hành lễ ký bản thỏa thuận ghi nhớ về hợp tác, phối hợp xử lý, khai thác những “Hồ sơ chứng tích chiến tranh Việt Nam” đang được lưu giữ tại VNCA một cách khoa học và hiệu quả nhất. Với mục đích cùng nhau thiết lập những “cầu nối” để chuyển giao những “chứng tích” cho thân nhân các cựu chiến binh và gia đình liệt sĩ tại Việt Nam. Trong số các hồ sơ bàn giao đợt đầu tiên, số hồ sơ CDEC F034603680029 khiến chúng tôi rất bất ngờ khi tiếp nhận hình ảnh 21 trang sổ tay di bút nhật ký của liệt sĩ Trần Minh Tiến, do quân đội Mỹ thu được sau trận đánh ngày 31-5-1968 tại Khe Sanh. Di vật ấy là một cuốn lịch bỏ túi năm 1968 với các ghi chép từ ngày 8-1-1968 đến ngày 28-5-1968.
Trần Minh Tiến đã hy sinh hơn nửa thế kỷ, nhưng những dòng viết về bạn bè của anh cùng học trường Lê Hồng Phong năm xưa vẫn tươi rói như vừa mới hôm qua, vẫn nóng hổi những lời nhắn nhủ tha thiết nhất cho những người đang sống hôm nay: “Mình không cầu mong các bạn việc gì to tát cả, mình cũng không cần các bạn phải tỏ lời an ủi thương xót đối với mình. Mình chỉ muốn các bạn, nếu đã là những người bạn chân chính, chung tình nhất thì hãy thay mình tiếp tục sống và cống hiến cho quê hương”.
Nhà văn ĐẶNG VƯƠNG HƯNG