Cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược của dân tộc ta đã sản sinh ra một lực lượng tình báo đặc sắc: Quân báo trinh sát. Nếu như các tin tức tình báo mang tính chất chiến lược, thì quân báo trinh sát cụ thể hóa những nguồn tin đó. Một trong những nhà tình báo quân sự gắn bó suốt đời với lực lượng này là Đại tá Vũ Đình Hòe, nguyên Cục phó Cục Nghiên cứu Bộ Tổng tham mưu (nay là Tổng cục 2-Bộ Quốc phòng).

Đội 35, Trung đoàn 75 (Cục Nghiên cứu) báo cáo tình hình địch với thủ trưởng Bộ tổng tham mưu tại chiến trường Quảng Trị. Ảnh tư liệu Tổng cục 2

Cho đến bây giờ, khi kể cho tôi nghe về cuộc đời của mình, Đại tá Vũ Đình Hòe vẫn cho rằng ông đến với ngành tình báo quân sự là hoàn toàn ngẫu nhiên và ngoài mong muốn của mình.

Số là giữa năm 1956, khi mới 28 tuổi và đang là quyền Trung đoàn trưởng Trung đoàn 176 của Đại đoàn 316, Vũ Đình Hòe được cử sang Liên Xô học ở Học viện quân sự Phrun-de, trường đào tạo cán bộ quân đội trung, cao cấp của quân đội Xô-viết. Năm 1960 về nước, anh rất ngạc nhiên khi thấy mình được phân công về Cục Nghiên cứu Bộ Tổng tham mưu làm công tác tình báo. Sau này mới biết, thì ra khi làm luận án tốt nghiệp ở Học viện Phrun-de, Vũ Đình Hòe bắt thăm phải đề tài trinh sát và anh hoàn thành khá xuất sắc. Cấp trên đọc hồ sơ  thấy vậy điều ngay ông về Cục Nghiên cứu. Đến năm 1966, ông được bổ nhiệm Trưởng phòng Trinh sát bộ đội (nay là Quân báo trinh sát) của cục này.

Và từ đó cho đến khi về hưu, Đại tá Vũ Đình Hòe gắn bó với ngành quân báo. Biết bao chiến công thầm lặng mà ngay cả những người phụ trách như ông cũng không nhớ hết; biết bao đồng chí, đồng đội hữu danh hoặc vô danh đã anh dũng hi sinh vì Tổ quốc. Nhưng ông nhớ nhất những tháng ngày ở mặt trận Quảng Trị nóng bỏng mà ông được hai lần tham gia hai chiến dịch lớn, với những chiến công như huyền thoại của đồng đội.

Ông Vũ Đình Hòe. Ảnh: Trung Nguyên

Năm 1967, với cương vị Trưởng phòng Trinh sát bộ đội của Cục Nghiên cứu, Vũ Đình Hòe có mặt trong đoàn cán bộ của Bộ Tổng tham mưu do Phó tổng tham mưu trưởng Doãn Tuế dẫn đầu vào Đường 9-Khe Sanh và bắc Quảng Trị để thúc đẩy hoạt động quân sự ở mặt trận này, làm nhiệm vụ nghi binh thu hút địch để ta mở đợt Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Khi đoàn cán bộ trở về Hà Nội, Vũ Đình Hòe được lệnh ở lại làm Chủ nhiệm Quân báo Mặt trận Đường 9-Khe Sanh. Cũng cần nói thêm rằng, hồi đó Phòng Trinh sát bộ đội của Cục Nghiên cứu có nhiệm vụ tham mưu giúp thủ trưởng Cục Nghiên cứu chỉ đạo các cơ quan quân báo cấp chiến dịch, chiến thuật về nghiệp vụ chuyên môn. Phòng cũng phải nghiên cứu, đề xuất công tác huấn luyện cho các chiến sĩ và phân đội trinh sát trong toàn quân các kỹ thuật, chiến thuật chuyên ngành như: võ thuật, binh yếu địa chí, tiềm nhập, tổ chức mạng quân báo nhân dân… Ngoài ra, phòng trực tiếp chỉ đạo Tiểu đoàn trinh sát bộ đội (sau tăng lên thành trung đoàn). Lực lượng này thường được cử đi các chiến dịch lớn để nắm tình hình, hệ thống bố trí của địch trên toàn mặt trận, phục vụ cho công tác tham mưu.

Do tính chất quan trọng của Mặt trận Đường 9-Khe Sanh nên cả Tiểu đoàn trinh sát 74 của Cục Nghiên cứu được tung vào nơi đây. Đến giờ, Đại tá Vũ Đình Hòe vẫn nhớ lần tổ trinh sát do Đại đội phó Nguyễn Đức Quỳ phụ trách đột nhập vào căn cứ quân sự Hướng Hóa để nghiên cứu địch.

Căn cứ Hướng Hóa án ngữ trên đường 9, nằm giữa Khe Sanh với các vị trí chiến lược khác của địch như Cồn Tiên, Dốc Miếu, Đông Hà… Lực lượng địch ở đây có khoảng một tiểu đoàn quân ngụy, được bảo vệ bằng hệ thống  hàng rào dây thép gai xen lẫn cây xấu hổ nên trinh sát của ta không thể dùng phương pháp tiềm nhập của đặc công để lọt vào căn cứ. Anh em trong tổ trinh sát đề nghị dùng biện pháp đột nhập.

Để có quyết định chắc chắn và chính xác, Trưởng phòng Vũ Đình Hòe và Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 74 Thái Hùng đến tận nơi thị sát. Đêm đến, dưới sự bảo vệ của cả tổ, hai người vào tận hàng rào để  quan sát và nắm quy luật thay gác, đi tuần tra của địch. Sau một tuần nghiên cứu, Vũ Đình Hòe quyết định cho tổ của Nguyễn Đức Quỳ đột nhập.

Một đêm của tháng 12-1967, tổ trinh sát gồm 9 người ăn mặc và trang bị như lính ngụy Sài Gòn đường hoàng tiến vào căn cứ Hướng Hóa. Đi qua cổng gác, cả tổ đưa tay chào tên lính gác cổng. Tưởng là đồng bọn vừa đi tuần tra về, tên lính gật đầu. Thế là cả tổ trinh sát lọt vào căn cứ, rồi theo sự phân công từ trước, chia ra từng nhóm đi điều tra những nơi trọng yếu. Theo hiệp đồng, một tiếng sau cả tổ tập trung một chỗ, rồi ung dung đi ra. Tên gác cổng tưởng một toán khác đi ra tuần tra quận lỵ Hướng Hóa, bèn giơ tay chào…

Cuộc đột nhập tưởng chừng như đơn giản, nhưng kỳ thực phải là những con người thông minh, dũng cảm, có thần kinh “thép” mới điềm nhiên đi qua họng súng của địch để vào nơi mình chưa hề quen biết. Sau khi trở về, cả tổ trinh sát đã vẽ lại chính xác sơ đồ bố trí của căn cứ Hướng Hóa, phục vụ cho Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 tiêu diệt và bắt sống toàn bộ tiểu đoàn địch ở căn cứ này.

Trong những ngày ở chiến trường đường 9-Khe Sanh gian khổ, ác liệt, đối chọi với lực lượng thiện chiến nhất của Mỹ-ngụy cùng với mưa bom bão đạn, lực lượng quân báo trinh sát do Vũ Đình Hòe phụ trách không những giúp Bộ tư lệnh chiến dịch nắm bố trí của địch trên toàn mặt trận, mà còn sát cánh với bộ đội ta giáng trả cho địch những đòn chí tử. Ở căn cứ Tà Cơn, Phân đội 1, Đại đội 1 trinh sát do Phạm Văn Lệ  phụ trách đã tiềm nhập sân bay Tà Cơn để vẽ toàn bộ sơ đồ sân bay, sau đó còn đưa Sư đoàn trưởng Chu Phương Đới và cán bộ Sư đoàn 325 vào trong căn cứ quan sát và trở về an toàn. Ở cứ điểm Cồn Tiên, toán quân báo gồm các chiến sĩ Giỏi, Tuấn, Việt, Dũng, Hùng đã vượt qua “lá chắn thép” bao gồm nhiều tầng dây thép gai và mìn dày đặc do Mỹ xây dựng, vào tận hang ổ của chúng bắt sống một tên Mỹ để về khai thác khiến cho bọn địch vô cùng kinh sợ.

Năm 1971, Đại tá Vũ Đình Hòe vào Quảng Trị lần thứ hai, phụ trách quân báo  của Mặt trận Đường 9-Nam Lào. Chiến lược của ta trong thời kỳ này là mở rộng vùng giải phóng ở bắc Quảng Trị. Một tổ quân báo  5 người do Vũ Mạnh Quang làm tổ trưởng được cử đi quay phim, chụp ảnh các cứ điểm của địch từ Cồn Tiên, Dốc Miếu, Đông Hà, sân bay Ái Tử đến sông Thạch Hãn… và những nơi dự kiến hướng quân ta sẽ tiến công.

Hồi đó, phương tiện của các toán quân báo chỉ là máy ảnh Ki-ép và máy quay phim 6 ly, không thể tác nghiệp từ xa và ban đêm được. Vậy làm thế nào để quay phim, chụp ảnh trong hang ổ kẻ thù? Các chiến sĩ cải trang thành lính ngụy hoặc dân thường, bám theo các cơ sở của ta để đột nhập vào căn cứ của địch. Sau khi giải phóng Quảng Trị, khi được các trinh sát dẫn vào căn cứ Ái Tử, nơi đặt bản doanh hậu cứ của Quân đoàn 1 ngụy, Vũ Đình Hòe mới giật mình khi thấy điều kiện làm việc của chiến sĩ quân báo cực kỳ nguy hiểm. Giữa hàng rào dây thép gai tua tủa và mênh mông đồi cát trắng, các chiến sĩ của ông giữa ban ngày đã quay phim, chụp ảnh toàn bộ căn cứ quan trọng này. Những phim ảnh đó được Bộ Tổng tham mưu đánh giá cao và 5 chiến sĩ trong tổ đều được tặng thưởng huân chương.

Tôi hỏi Đại tá Vũ Đình Hòe, quân báo trinh sát có vai trò chiến lược  trong các chiến dịch không? Ông Hòe cười và bảo rằng, có nhiều người hỏi ông như vậy, vì họ cho rằng lực lượng quân báo trinh sát chỉ cung cấp những thông tin ở cấp chiến thuật, phục vụ cho các đơn vị đánh đồn, diệt cứ điểm. Thực ra, tin tức tình báo và quân báo trinh sát có quan hệ mật thiết với nhau. Nếu tin tức tình báo mang tính chất chiến lược, thì nhiệm vụ của các trinh sát phải cụ thể hóa các tin tức đó để giúp Bộ tư lệnh chiến dịch có quyết tâm chiến đấu chính xác.

Trong chiến dịch đường 9-Nam Lào, khi tình báo của ta cung cấp tin là địch sẽ có cuộc hành quân Lam Sơn 719 phá kho tàng của ta để cắt đứt đường tiếp tế từ Bắc vào Nam và rèn luyện quân ngụy trước khi Mỹ thực hiện “Việt Nam hóa chiến tranh”. Tin tình báo đó hoàn toàn chính xác. Nhưng cả quãng đường dài trên biên giới Việt-Lào, từ Lao Bảo, Khe Sanh đến A Sầu, A Lưới thì đâu là điểm chính để địch tập trung quân, trong khi ở mặt trận này lực lượng của ta chỉ có 3 sư đoàn, không thể rải ra được. Vậy, nhiệm vụ của quân báo trinh sát là phải tìm ra trọng điểm địch sẽ đánh ở đâu, đánh như thế nào?

Nhận nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh chiến dịch, Vũ Đình Hòe dẫn một đại đội trinh sát trèo đèo lội suối suốt từ đường 9 vào đến Sê Pôn. Ông bố trí từng đài quan sát, kết hợp với tin của trinh sát kỹ thuật xem thám báo, biệt kích địch đổ bộ ở đâu, chúng dò la nhằm mục đích gì, máy bay trinh sát của địch tập trung ở khu vực nào là chính. Sau đó, kết hợp với nhiều nguồn tin khác, ông xác định trọng điểm tập trung của địch là nam đường 9. Dự đoán đó giúp Bộ tư lệnh chiến dịch đường 9-Nam Lào có quyết tâm chiến đấu chính xác. Khi chiến dịch mới được một nửa, lại có tin tình báo chiến lược là địch sẽ lật cánh từ nam đường 9 vào A Sầu, A Lưới. Làm thế nào đây khi 3 sư đoàn của chúng ta đang tập trung đánh địch ở nam đường 9? Địch thì có sức cơ động cao, chẳng lẽ ta đang đánh nhau lại phải rút quân để đón địch trước. Vậy, nhiệm vụ của trinh sát quân báo phải nhanh chóng điều tra xác minh. Vũ Đình Hòe cùng các chiến sĩ lại khẩn trương lên đường. Cuối cùng, căn cứ vào hành động của Bộ tư lệnh Quân đoàn 1 ngụy và những động thái trên chiến trường, ông và các trinh sát quân báo khẳng định là không có chuyện đó, giúp bộ đội ta yên tâm tiêu diệt địch, đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân Lam Sơn 719 của chúng.

Như vậy, Đại tá Vũ Đình Hòe có mặt trong hai chiến dịch lớn ở Quảng Trị, chứng kiến bản anh hùng ca bất tử của quân và dân ta trong những ngày  đỏ lửa cho đến khi mảnh đất miền Trung này được giải phóng. Biết bao tên đất, tên làng in dấu chân thầm lặng của những chiến sĩ quân báo trinh sát; biết bao máu xương của đồng đội ông hòa tan vào cây cỏ, núi sông của mảnh đất nóng bỏng và anh hùng đó, làm nên tượng đài chiến thắng bất diệt trong lòng mỗi người dân Việt Nam.

Chiến công của người lính quân báo trinh sát của ông và đồng đội còn rất nhiều, mà ở Mặt trận Quảng Trị mới chỉ là nét chấm phá…

Hồng Sơn