Có tất cả 10 giải thưởng trao cho các nhà văn ba nước: Việt Nam (3); Cam-pu-chia (3); Lào (4). Giải thưởng Văn học Mê Công lần thứ ba đã được trao cho tác phẩm của các nhà văn Việt Nam: Bão rừng (tập bút ký, ký sự của nhà văn Ngọc Tự, tức Thoong B.C); Một ngày là mười năm (tiểu thuyết của Phạm Quang Đẩu); Chú Tư, con là ai? (tiểu thuyết của Thăng Sắc, tức Nguyễn Chiến Thắng).

Trong số ba tác giả Việt Nam được giải có Đại tá, nhà văn quân đội Phạm Quang Đẩu, công tác tại  Báo Quân đội nhân dân, một nhà văn đã viết nhiều cuốn tiểu thuyết sử thi, tiểu thuyết nhân vật gây được nhiều dư luận trong bạn đọc, trong đó có những cuốn như: Bảy ngày tự thú (tiểu thuyết, 1991); Lời tiên tri độc ác (tiểu thuyết, 1993); Cơn sốc (tiểu thuyết, 2002); Sét đánh vào thị trấn (tiểu thuyết, 2003); Một ngày là mười năm (tiểu thuyết, 2009)-Giải thưởng Văn học sông Mê Công; sau này là Đánh đu cùng số phận (tiểu thuyết, 2012);  Đơn tuyến (tiểu thuyết chân dung)-Giải A cuộc thi sáng tác tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài “Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống (2012-2015)” do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn tổ chức.

leftcenterrightdel
Nhà văn Phạm Quang Đẩu (đứng thứ tư, từ trái sang) và các đồng nghiệp ở “Phố nhà binh”. Ảnh tư liệu. 

Tiểu thuyết sử thi Một ngày là mười năm (Nxb Lao Động, 2010) của nhà văn Phạm Quang Đẩu là lời ngợi ca nồng nhiệt, sâu sắc và chân thật tình hữu nghị đặc biệt từng trải qua và vượt qua biết bao nhiêu gian nan, thử thách giữa hai dân tộc láng giềng luôn thủy chung, gắn bó như anh em ruột thịt Việt-Lào được biểu hiện bằng hình tượng nghệ thuật, cảm động và có sức lay động lòng người.

Nhân vật chính Nhị Nguyễn trong tiểu thuyết đã có một chuyến công tác đặc biệt vượt Trường Sơn xuyên bán đảo Đông Dương mất gần nửa năm, qua Lào sang Thái Lan vào năm 1951-1952. Câu chuyện chủ yếu diễn ra ở cao nguyên Bô-lô-ven, nơi được gọi là mái nhà của Đông Dương. Trong những năm chống thực dân Pháp và sau đó là đế quốc Mỹ, nơi này luôn diễn ra nhiều cuộc đấu trí, đấu lực căng thẳng, khốc liệt giữa ta và địch để giành dân, giành đất. Nhiều hình ảnh ngời chói của những người con hai dân tộc Lào và Việt đã hiện lên sinh động qua ngòi bút của tác giả. Là một trí thức mặc áo lính, ngay từ những ngày đầu trên chiến trường nước bạn, Nhị Nguyễn đã được làm quen với trung đoàn trưởng rất độc đáo, “một nông dân mặc áo lính, nói năng cục mịch, đường đột”. Mãi về sau ông mới hay, viên trung đoàn trưởng từng trốn nhà đi bộ đội từ năm mười sáu tuổi, còn mù chữ, thế mà đến Chiến dịch Điện Biên Phủ đã là đại đội trưởng, học hết cấp hai, vài năm sau hết cấp ba bổ túc... Ở Chiến dịch Điện Biên Phủ, người nông dân mặc áo lính ấy nổi lên như một anh hùng, hai lần bị thương vẫn không rời trận địa. Đại đội cửa mở của ông đã chiến đấu xuất sắc trong trận mở màn đánh vào Đồi A1. Do đó, không lấy làm lạ nếu chỉ sau một thời gian ngắn, trong sâu thẳm của lòng mình, Nhị Nguyễn từ lúc nào đã chuyển từ ác cảm sang cảm mến, gần gũi... Thế nhưng, sau đó, ông và những người lính Trung đoàn 55 (Sư đoàn Trường Kỳ) cùng cả Mặt trận C. sững sờ vì đau xót và tiếc thương khi biết tin trung đoàn trưởng đã hy sinh một cách lẫm liệt! Đời Nhị Nguyễn - một anh lính “tạch tạch sè” chịu ảnh hưởng rất lớn của hai người là Huynh trưởng Tạ Quang Bửu và viên trung đoàn trưởng anh hùng này.

Viết tiểu thuyết Một ngày là mười năm, Phạm Quang Đẩu không ngại đụng chạm tới những vấn đề nhạy cảm một thời, đặc biệt là khi đụng phải câu hỏi: Người lính cách mạng trong cuộc chiến dai dẳng một mất một còn kia, có lúc nào chao đảo, thậm chí lầm lỗi không? Những người có xuất thân tầng lớp trên-địa chủ, tiểu tư sản-có “trụ” được trong bão tố và khói lửa chiến tranh?...

Nhị Nguyễn tham gia cuộc chiến với tư cách là một cán bộ vũ trang-tuyên truyền, một trí thức trẻ. Rất nhiều thử thách đến với anh. Đến từ nhiều phía. Nhiều khi từ chính trong hàng ngũ, từ đồng chí, đồng đội của anh! Có những lúc, trong thời kỳ đầu, Nhị Nguyễn “cảm thấy bước chân hụt hẫng, mắt hoa như sắp lên cơn sốt rét”, và nghĩ: “Bỏ quách đây đi, về nước cho nhẹ đầu óc!”… Rồi hình ảnh người trung đoàn trưởng cùng Huynh trưởng Tạ Quang Bửu chợt hiện về như nâng bước ông đứng dậy tiếp tục cuộc chiến đấu! 

 

leftcenterrightdel
Bìa cuốn tiểu thuyết. 

Tuy nhiên, đúng lúc ấy, một nỗi mê mụ khác liền ập đến: “Mắt ông nhìn đăm đắm về phía dãy Phù Luỗng xa xa. Dưới chân núi ấy có một người con gái tuổi trăng rằm…”.  Nhị Nguyễn từng nghe vị chính ủy của ông kể về kinh nghiệm của chính mình, bằng ngôn ngữ của riêng mình, tự nhiên, chân thật: “Vì sao không chết vì người đẹp khi vào bản làm dân vận. Mình kẻng trai, chưa vợ, thiếu gì gái mê. Nhưng bất luận là ai, trong trường hợp nào, bập vào là toi!”. Ông vẫn  luôn đinh ninh lời dặn của chính ủy... Nhưng bắt đầu từ lần ông phải náu trong buồng của Xão Xọi, đóng vai chồng nàng để che mắt địch. Theo tục lệ Nha Hởn, đã bước vào buồng người con gái là đã thật sự thành chồng người đó, nếu không ma quỷ sẽ quấy nhiễu. Nên những gì phải đến đã đến! Thế rồi, chiến cuộc trên cao nguyên đã đến hồi khốc liệt, không cho phép ông dành thì giờ cho những ý nghĩ vẩn vơ, những dằn vặt riêng tư nữa. Án kỷ luật sau đó đến với ông là khó tránh khỏi. Nhưng, Nhị Nguyễn đã không hề hối tiếc, có điều lòng ông day dứt khôn nguôi. Nhất là khi ông biết chuyện Xão Xọi đã có thai. Rồi tình cờ ông lại gặp Khăm Đi, đứa con riêng của ông với nàng!

Mãi về sau này khi đã về nước, ra quân, nghỉ hưu, câu chuyện về người con gái xứ hoa Chăm-pa cùng đứa con mang hai dòng máu Việt-Lào vẫn luôn là nỗi trở trăn trong lòng người lính Quân tình nguyện năm nào. Một đoạn của Một ngày là mười năm viết: “... Mọi chuyện đời ông đều đã công khai minh bạch cả, mà sao chỉ còn mỗi một chuyện lúc tỉnh táo khỏe mạnh ông vẫn không thể công khai được với vợ, con? Một thời gian dài ông vùi sâu chôn chặt trong tâm khảm mối tình với cô gái người Lào dạo ấy, muốn quên đi, mà lạ, càng về già nó lại luôn động cựa muốn xé toang bức màn trá ngụy nào đó mà đòi hỏi sự phán xét công bằng của tình người. Giá những ngày này, Khăm Đi có mặt tại đây, ông sẽ nói với vợ, đây mới là cậu cả, tôi có con với bà ấy trong một hoàn cảnh thực đặc biệt trước ngày chúng ta cưới và tôi vẫn giấu bà, nay bà có tha lỗi cho tôi không, có nhận Khăm Đi vào đại gia đình chúng ta không? Ông sẽ bảo với hai con Long và Hiền: Các con còn một người anh nữa. Anh con từng chiến đấu với ba ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Lính ra lính đấy. Nếu được thế mới thực là có hậu, về thế giới bên kia thực thanh thản cõi lòng...”.

Rồi đoạn kết cuốn sách chan chứa ân tình... Dải băng nơi vòng hoa dâng lên hương hồn ông trân trọng đề: “Kính viếng hương hồn bác, Trung tá Đào Nhị Nguyễn, nguyên chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào. Cháu Khăm Đi”. Còn Khăm Đi thì mắt đỏ hoe, nắm chặt hai tay người quả phụ nghẹn ngào nói bằng tiếng Việt khá sõi: “Thưa bác! Cháu đang đi công tác ở Nam Lào, về nhận được điện từ Hà Nội một ngày sau khi bác trai qua đời, nên đến muộn. Cháu xin chia buồn sâu sắc với bác cùng gia đình ta!”. Đáp lại, bà Nhị Nguyễn cứ để yên tay mình trong lòng bàn tay thô ráp, rắn rỏi của Khăm Đi, rồi nói trong nước mắt chảy dài: “Người ông ấy nghĩ đến nhiều nhất trước khi đi là anh đấy!”. Khăm Đi quay sang bắt tay, bùi ngùi nói lời chia buồn với từng người thân trong gia đình ông Nhị Nguyễn. Cô cháu nội nước mắt lưng tròng, ngước nhìn Khăm Đi, thổn thức: “Bác ơi, ông cháu đợi bác mãi!”. Cái kết có hậu và cảm động! Phải chăng, ấy cũng là một thông điệp mà tác giả-Đại tá, nhà văn Phạm Quang Đẩu muốn gửi tới bạn đọc, rằng: Tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, hai quân đội Việt Nam-Lào đã là tình anh em, là ruột thịt!    

Đọc Một ngày là mười năm, chắc không bạn đọc nào quên một sự kiện lịch sử. Ngày 13-3-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiễn Đoàn đại biểu cao cấp Vương quốc Lào do Vua Xrivang Vathana và Thủ tướng Xuvana  Phuma dẫn đầu kết thúc chuyến thăm Việt Nam. Trong lời tiễn, Bác đã đọc 4 câu thơ: “Thương nhau mấy núi cũng trèo/ Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua/ Việt-Lào hai nước chúng ta/ Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia-Sự thật, 2002, tập 11, tr. 44).

Thập Tam trại 7- 2017 

NGÔ VĨNH BÌNH