QĐND - Đó là một ngày cuối năm 2007. Để rồi sau đó không lâu, ông chấm dứt chuỗi năm tháng “ở trọ trần gian”, thanh thản về với thế giới vĩnh hằng. Bây giờ mỗi dịp đi qua con đường trước thư viện quận Gò Vấp, bên cái quán cà phê “bụi” ven đường, tôi vẫn như thấy ông còn ngồi đó, dáng gầy gò, đôi mắt chớp chớp liên hồi sau cặp kính trắng dày cộp...

Nhà văn Sơn Nam (bên trái) trò chuyện với tác giả trong cuộc gặp gỡ cuối cùng. Ảnh:  Kim Tùng

Nói cuộc gặp gỡ cuối cùng là bởi trước đó, tôi đã mấy lần được gặp và hầu chuyện ông. Khi thì đặt ông viết bài cho số báo Xuân theo yêu cầu của Ban biên tập. Khi thì hỏi chuyện ông về văn hóa Nam Bộ. Nhưng cũng có khi đơn giản là cùng đám phóng viên và mấy nhà văn trẻ đến ngồi nghe ông nói chuyện bên ly cà phê “bụi” để tìm vốn ngôn ngữ viết bài. Với anh chị em làm báo, viết văn ở TP Hồ Chí Minh, ông là pho tư liệu sống về văn hóa, lịch sử, là một bậc thầy về ngôn ngữ Nam Bộ. Thế nên ông còn được gọi bằng cái tên rất đỗi thân thuộc là “Ông già Nam Bộ”.  Rất lạ và thú vị là mỗi lần gặp ông, câu chuyện mà ông mang đến cho chúng tôi mỗi lần mỗi khác, mỗi người mỗi khác, không “đụng hàng”, không lặp đề tài. Dường như ông biết, lớp trẻ chúng tôi cần ở ông điều gì nên dù là câu chuyện bên quán cóc vỉa hè, bao giờ ông cũng có thứ gì đó để chúng tôi thu nạp. Tháng cận Tết hằng năm là khoảng thời gian ông bận rộn nhất. Hàng chục tờ báo lớn nhỏ đến tìm ông để đặt bài, phỏng vấn. Và chưa bao giờ ông từ chối. Khi được đặt bài, ông hỏi rất kỹ, cần ông viết về cái gì, bao nhiêu chữ? Và thường là chỉ sau vài ngày, chậm nhất là một tuần, ông hẹn đến lấy. Sản phẩm của ông là những trang giấy học trò viết bút mực, nét chữ mộc mạc, rõ ràng, dễ đọc. Chỗ nào cần sửa, bổ sung thì ông đánh dấu mực đỏ vào đó. Tết năm nào cái tên nhà văn, nhà Nam Bộ học Sơn Nam cũng đứng dưới tên tác phẩm trên hàng chục tờ báo lớn, nhưng không bài nào “đụng hàng” nhau. Ông xuề xòa là vậy nhưng trong sáng tạo ngôn ngữ, ông có tính kỷ luật lao động rất cao và nghiêm túc. Cường độ viết và làm việc của ông thật đáng nể. Ngay cả khi đã nằm trên giường bệnh, ông vẫn chưa thôi viết.

 Lần nào cũng vậy, điểm hẹn ông dành cho tôi là Thư viện quận Gò Vấp. Đây mới thực là “nhà” của ông. Còn cái nhà ông được Nhà nước cấp trong con hẻm, dường như chỉ là cái chốn trọ mỗi khi đêm xuống ông ghé về ngả lưng. Tài sản quý giá nhất và nhiều nhất trong căn nhà ấy cũng chỉ là sách báo. 

Trở lại với cuộc gặp gỡ cuối cùng ông dành cho tôi. Bấy giờ ông đã yếu lắm. Người gầy tong teo, chân bị bệnh khớp nên ông đi lại khá khó khăn. Mỗi khi bước lên cầu thang phải có người giúp đỡ. Ông nói chuyện cũng chậm hơn nhưng cái sự say sưa, hóm hỉnh thì vẫn thế. Dấu ấn và phong cách Sơn Nam không thể lẫn, dù sức khỏe không cho phép ông nói nhiều. Cơ mặt giật giật liên tục mỗi khi ông cất tiếng nói. Vậy nhưng ông vẫn không từ bỏ thói quen đến thư viện đọc sách. Nghe đâu mấy bác xe ôm gần nhà cứ mỗi lần thấy “Ông già Nam Bộ” đi ra khỏi cửa là sẵn sàng phục vụ ông miễn phí. Nhưng ông có nguyên tắc, không lạm dụng lòng tốt của người khác. “Khuyến mãi” lần đầu thì được nhưng đến lần thứ hai thì ông nhất định trả tiền. Nếu không chịu lấy tiền thì ông “dọa” sẽ gọi xe khác. Mấy cô thủ thư quen và yêu quý ông đến mức dành hẳn cho ông một cái bàn riêng trong gian phòng yên tĩnh để ông nghiên cứu và tiếp khách. Ông hẹn tôi lúc 8 giờ sáng. Tôi đến trước 15 phút đã thấy ông ngồi ở đó, trước mặt là một chồng sách. “Dạ! Sao bác đến sớm thế ạ?” – Tôi hỏi. Ông nheo nheo mắt cười, cái cười sảng khoái như bản tính con người Nam Bộ xưa nay: “Tui hẹn là hẹn cho cậu, chớ tui thì sáng mờ đất là đã ở đây rồi. Tuổi trẻ như cậu, quỹ thời gian còn dài, còn ham chơi, ham ngủ. Còn tui, sống được bao lâu nữa đâu mà ngủ muộn cho nó phí”. Tôi lặng ngồi nhìn ông. Đôi dép lê. Cái áo sơ mi bạc màu. Chiếc quần Tây cũ trở nên rộng thùng thình bởi càng ngày ông càng gầy yếu hơn. Tôi hẹn hỏi chuyện ông về văn hóa phong tục để viết bài cho Báo Quân đội nhân dân. Chẳng kịp để tôi vào đề, ông nói luôn: “Bàn đến văn hóa phong tục nó rộng lắm, phong phú lắm. Để tiện cho cậu viết bài, tui chỉ nói gọn trong bốn cái gạch đầu dòng”. Nghe ông nói, tôi như mở cờ trong bụng. Sướng đến thế là cùng. Thông thường người được phỏng vấn chỉ thực hiện mỗi việc trả lời câu hỏi của phóng viên, nhưng với ông, đó còn là những gợi ý rất có giá trị giúp phóng viên hoàn thành bài viết một cách tốt nhất. Bốn cái gạch đầu dòng mà ông dành cho tôi bắt đầu bằng 4 chữ “Quan – Hôn – Tang– Tế”. Ông giải thích: Quan, để chỉ các nghi lễ, phong tục về con đường lập thân, lập nghiệp, nền nếp gia phong. Hôn, là những nghi lễ trong hôn nhân. Tang, là nghi lễ trong việc tang, thờ cúng. Tế, là những phong tục tín ngưỡng trong lễ hội, hoặc tín ngưỡng tôn giáo... “Một nguyên thủ quốc gia hay một người đạp xích lô, chạy xe ôm, bán vé số... khi vào đình, chùa, đến nhà thờ, đi lễ hội, làm lễ thành hôn trước bàn thờ gia tiên hay đứng trước linh cữu của cha mẹ... đều chung một nghi lễ. Ông bộ trưởng cũng phải vái lạy kẻ ăn mày nếu như người ta đến thắp nhang viếng cha (mẹ) mình. Cái giá trị tự thân của văn hóa phong tục là ở chỗ nó tạo ra sự bình đẳng giữa con người với con người. Xây dựng văn hóa ứng xử cho lớp trẻ hôm nay phải bắt đầu bằng cái gốc của văn hóa phong tục” - Ông nói.

Hôm sau tôi viết bài xong, mang đến cho ông xem trước khi đăng báo. Ông cẩn thận sửa những chỗ tôi sử dụng phương ngữ Nam Bộ chưa chuẩn. Tôi mời ông đi ăn ở nhà hàng nhưng ông từ chối. Ông kéo tôi vào quán cơm “bụi” ở gần thư viện Gò Vấp mà hằng ngày ông vẫn ghé ăn trưa. Bà bán hàng cơm đã quá hiểu “gu” ẩm thực của ông nên cứ thế mà đưa thức ăn ra, không cần chờ ông gọi. Một đĩa cơm. Cái trứng rán. Một ít rau muống luộc, bát canh và ly trà đá. Tất cả chỉ có thế. Bữa ăn của một nhà văn nổi tiếng với khối lượng tác phẩm chất cao hơn đầu người chỉ có thế. Bao năm nay rồi cũng chỉ thế. Thói quen của ông như thế rồi. Ông ăn chậm lắm nhưng ngồi suốt buổi, đĩa cơm cũng chỉ vơi được già nửa. Tôi chợt thấy chùng lòng khi chứng kiến ngày trần gian của ông đang cạn dần... Con người ông giản dị, nhân nghĩa thế nên tác phẩm của ông cũng thế. Trong sáng tác văn học, ông hướng ngòi bút của mình đến những người nông dân Nam Bộ và dân nghèo thành thị, dành cho họ cái nhìn nhân văn. Các công trình biên khảo, khảo cứu của ông có giá trị như những “giáo khoa” về lịch sử khẩn hoang đất phương Nam và văn hóa phong tục Nam Bộ xưa nay. Ông đọc nhiều, hiểu rộng lại tinh tường. Những sáng tác của ông mang hơi thở của thiên nhiên, của văn hóa và con người Nam Bộ, được thể hiện qua giọng văn giản dị, chân chất, mộc mạc, mang phương ngữ Nam Bộ rõ nét nhưng có sức cuốn hút bạn đọc kỳ lạ.

Ông “khoe” với tôi đã được Ban quản lý Nghĩa trang công viên Bình Dương (tỉnh Bình Dương) đặt vấn đề xin được... chôn cất thi hài ông tại nghĩa trang này sau khi ông qua đời. Một chuyện lạ rất hiếm gặp trong thực tế. Tất cả cũng chỉ bởi ông được nhiều người yêu quý, ngưỡng mộ. Ông nói với vợ con: “Người ta đã có ý tốt với mình như vậy, mình nhận lời thôi”.

Khoảng vài chục năm trước ngày giã từ trần gian, ông ít sáng tác văn học mà dành tâm huyết thực hiện các công trình khảo cứu văn hóa Nam Bộ. Ít ai ngờ ông già mảnh khảnh với dáng đi liêu xiêu trên phố Gò Vấp, thường xuyên ăn cơm “bụi” và cà phê vỉa hè ấy lại có một sức lao động ngôn ngữ phi thường đến thế. Có nhiều cuốn sách của ông được nhà xuất bản mua bản quyền ngay khi nó chưa xong bản thảo. Ông trở thành người của công chúng khi xuất hiện nhiều trên truyền hình với vai trò là cố vấn văn hóa cho các sự kiện văn hóa lớn của Quốc gia và địa phương ở Nam Bộ. Những năm tháng cuối đời, ông được Nhà xuất bản Trẻ mua bản quyền toàn bộ tác phẩm Sơn Nam. Ông là trường hợp hiếm hoi được dựng tượng tại khu văn hóa Bình Quới khi đang còn sống. Ngày khánh thành tượng, mọi người xúm lại chúc mừng và hỏi ông về cảm nghĩ. Ông cười: “Bây giờ tui chỉ nghĩ, vậy là mình chết được rồi”. 

Và ông đã ra đi vào một ngày đầu thu năm 2008 sau một thời gian lâm bệnh nặng. Ông sống một cuộc đời giản dị, thanh bạch và khá thiếu thốn, nhưng khi trở về thế giới bên kia, những người yêu quý nhà văn Sơn Nam đã lập mộ ông thật đẹp và trang trọng, giống như một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc. Giữa không gian xanh mát, mộ của nhà văn được ghép, ốp bằng đá Bình Định. Trên bia mộ, các nghệ nhân đã khắc chân dung nhà văn dựa theo bức ảnh chụp cảnh ông đi thực tế sáng tác, khảo cứu tại Nam Bộ, vai đeo chiếc ba lô nhỏ, phía trên nóc ba lô còn nguyên một ổ bánh mì. Phía trước mộ, trên tảng đá lớn là hai câu thơ (cũng là đôi câu đối) của ông: “Phong sương mấy độ qua đường phố/Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê”. Trên ngôi mộ ấy, thường xuyên thơm ngát khói nhang bên những bó hoa tươi...

Tháng Tư năm nay, giới nhà văn cả nước kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Hội Nhà văn Việt Nam. Trong chuỗi các hoạt động, chúng ta dành những khoảng lặng để tưởng nhớ nhà văn tên tuổi đã quá cố, có nhiều đóng góp như Sơn Nam. Mấy kỷ niệm nhỏ về ông được viết ra đây, xin coi như nén tâm nhang tưởng nhớ ông, một nhà văn xuất sắc của Nam Bộ cả về tài năng, đức độ và nhân cách.

Phan Tùng Sơn