Người dân Quảng Trị, đặc biệt là đồng bào Vân Kiều và Pa Cô ở huyện Hướng Hóa cũ, trong các lễ hội truyền thống đều cất lên những bài hát từng gắn bó với họ một thời lửa đạn. Lời ca của nhạc sĩ Huy Thục mềm mại, tha thiết: “Ơi dòng suối La La/ Nước trong xanh hiền hòa/ Chảy quanh đồi Không Tên/ Đang bay bổng lời ca/ Chảy xuôi về sông Cam Lộ...”; còn ca khúc của nhạc sĩ Thuận Yến-Nguyễn Vũ Ái lại mang âm điệu vui tươi: “Em có tắm dòng suối La La, từ bên anh Hướng Hóa chảy qua...”. Chính vì vậy mà nhiều người thắc mắc: Vì sao lại có hai dòng suối cùng tên, một chảy vào sông Cam Lộ, một chảy vào sông Sê Pôn-vốn là ranh giới tự nhiên giữa huyện Hướng Hóa cũ và huyện Sê Pôn (Lào)?
Để tìm lời giải, một ngày đông rét mướt, chúng tôi quyết định lên đường đến tận hai địa điểm để tìm đâu là dòng La La đích thực.
Suối La La ở xã Cam Tuyền cũ (nay là xã Hiếu Giang), bắt nguồn từ đồi Không Tên, chảy qua thôn Bản Chùa rồi đổ vào sông Hiếu ở thôn Ba Thung. Bản Chùa nằm dưới chân núi Phu Lơ (còn gọi là cao điểm 544). Phía hữu ngạn là những bãi sắn, rừng cao su và rừng tràm; phía tả ngạn là nơi cư dân tập trung sinh sống. Bản Chùa có 100% người Vân Kiều sinh sống. Họ định cư từ thời Pháp thuộc, là bản Vân Kiều duy nhất ở vùng trung du.
Ông Hồ Văn Xuyên (sinh năm 1960), Chi hội trưởng Chi hội Người cao tuổi thôn Bản Chùa (xã Hiếu Giang) kể về lịch sử của thôn bằng giọng đầy tự hào: Bản Chùa trước đây gọi là Khe Chùa. Người Vân Kiều có mặt ở đây từ thời Pháp thuộc, thậm chí còn sớm hơn. Hầu hết cư dân di cư từ vùng núi Hướng Hóa cũ đi về phía Đông Nam và chỉ dừng lại khi gặp vùng đất bằng phẳng bên một dòng suối lớn, rồi định cư cho tới ngày nay. Người dân Bản Chùa gọi dòng suối chảy qua thôn là Tum Koon. Trong tiếng Vân Kiều, Tum nghĩa là khe, Koon nghĩa là suối. Sau này, bộ đội đóng quân tại đây đã gọi Tum Koon là suối La La. Tên gọi ấy được giữ lại và phổ biến cho đến bây giờ.
    |
 |
| Ông Hồ Văn Xuyên, Chi hội trưởng Chi hội Người cao tuổi thôn Bản Chùa (xã Hiếu Giang, tỉnh Quảng Trị) kể về lịch sử của suối La La. Ảnh: LÊ HOÀI |
Theo ông Hồ Văn Ing (sinh năm 1941), Chi hội trưởng Chi hội Cựu chiến binh thôn Bản Chùa, những năm 60 của thế kỷ trước, khu vực Bản Chùa là nơi giao tranh ác liệt giữa bộ đội ta và quân Mỹ. Giặc đã đổ xuống đây biết bao bom đạn và chất độc hóa học. Bom đạn làm cho người dân tạm thời phải di tản nhưng họ luôn tìm cách quay về quê cha đất tổ, về quần tụ bên dòng suối chảy ngang qua thôn để giữ đất, giữ làng và ổn định đời sống. Suối La La trở thành dòng suối mang hồn cốt của người xứ này.
Có lẽ tên gọi suối La La trở nên phổ biến nhờ ca khúc “Ơi dòng suối La La” của nhạc sĩ Huy Thục. Bài hát được sáng tác năm 1967 và ngay khi ra đời đã nhanh chóng đi vào lòng người. Ca khúc gắn liền với chiến công của anh hùng Bùi Ngọc Đủ, Tiểu đội trưởng chỉ huy 10 chiến sĩ đối đầu với khoảng 200 lính thủy quân lục chiến Mỹ tại đồi Không Tên. Với tinh thần “lấy ít địch nhiều”, tiểu đội của ông đã đánh lui 15 đợt tấn công, tiêu diệt hơn 100 tên địch. Kỳ tích ấy đã khiến tên tuổi Bùi Ngọc Đủ trở thành biểu tượng cổ vũ tinh thần chiến đấu của bộ đội Trị Thiên và cũng là nguồn cảm hứng để nhạc sĩ Huy Thục sáng tác nên bài hát “Ơi dòng suối La La”.
Sau trận đánh, nhạc sĩ Huy Thục từng hỏi Bùi Ngọc Đủ: Giữa núi rừng hoang vu và bom đạn ác liệt như vậy, các cậu lấy đâu ra nước mà dùng? Anh hùng Bùi Ngọc Đủ đáp: Chúng em vẫn uống nước suối La La... Chính câu trả lời mộc mạc ấy đã trở thành “tứ” nhạc để nhạc sĩ viết nên ca khúc nổi tiếng.
Theo ông Hoàng Văn Tiến (Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Quảng Trị), tên gọi suối La La rất có thể được bộ đội ta đặt trong thời kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để gọi con suối nơi họ chiến đấu. Dù không phải là tên gốc do cư dân địa phương đặt nhưng sức lan tỏa của bài hát cùng hình ảnh người anh hùng Bùi Ngọc Đủ đã khiến cái tên La La trở thành niềm tự hào của người dân Bản Chùa và cả vùng Cam Lộ.
    |
 |
Người Vân Kiều mưu sinh trên suối La La.
|
Trong các lễ hội của người miền núi Hướng Hóa, không thể thiếu bài hát “Em gái Sê Pôn” của nhạc sĩ Thuận Yến (lời Nguyễn Vũ Ái). Bài hát nhắc đến suối La La được vun đầy bởi những dòng nước từ núi rừng Hướng Hóa, rồi chảy sang Lào. Con suối này bắt nguồn từ cao điểm 689-vùng giáp ranh giữa xã Hướng Tân cũ và xã Tân Liên cũ, nay thuộc xã Khe Sanh và xã Tân Lập.
Suối La La ở phía Tây, dài khoảng 20km, đổ vào sông Sê Pôn tại xã Tân Long (nay là xã Lao Bảo); đầu nguồn ở cao điểm 689, nơi đã trở thành dấu mốc thiêng liêng trong hành trình đấu tranh chống đế quốc Mỹ. Tại đây diễn ra trận đánh then chốt của chiến dịch Khe Sanh, góp phần giải phóng vùng đất này vào tháng 7-1968. Những câu chuyện về các chiến sĩ đã ngã xuống tại cao điểm 689 vẫn được người dân nhắc lại như một lời tri ân sâu sắc đối với những người con đã hy sinh vì Tổ quốc.
    |
 |
| Cầu La La trên Tỉnh lộ 586 bắc qua suối La La (đoạn sát sông Sê Pôn nối các xã vùng Lìa với Quốc lộ 9). Ảnh: LÊ HOÀI |
Hạ lưu của con suối nằm dưới chân di tích lịch sử căn cứ Làng Vây-một cứ điểm kiên cố trong hệ thống phòng ngự trên Quốc lộ 9 của quân Mỹ. Đây cũng là nơi xe tăng ta lần đầu tiên xuất hiện trên chiến trường miền Nam và góp phần làm nên chiến thắng vang dội. Hiện nay, tại hạ nguồn có một nhà máy thủy điện nhỏ mang tên Thủy điện La La, hòa vào lưới điện quốc gia. Bên cạnh đó là chiếc cầu treo thơ mộng bắc qua, nối căn cứ Làng Vây-Quốc lộ 9 với Bản Vây, nơi 100% cư dân là người Vân Kiều từng gắn bó sâu nặng với bộ đội những năm tháng chiến tranh.
Nhà nghiên cứu văn hóa Hồ Phương cho rằng, tỉnh Quảng Trị có hai dòng suối cùng tên La La chảy theo hai hướng Đông-Tây, nhưng cả hai đều gắn chặt với đời sống của đồng bào Vân Kiều và với những chiến công của Quân giải phóng. Suối La La đã đi sâu vào tiềm thức người dân Quảng Trị, để mỗi khi nhắc đến dòng suối là nhắc đến tình cảm son sắt của người dân nơi đây-những con người kiên cường bám đất, bám làng, một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ. Hai dòng suối, dù chảy về hai hướng khác nhau nhưng lại gặp nhau trong ký ức và tâm hồn người Quảng Trị như những chứng nhân của một thời lửa đạn. Từ dòng suối mộc mạc và thơ mộng, những câu chuyện, những bài ca và những chiến công đã hòa quyện, làm nên biểu tượng vừa gần gũi vừa thiêng liêng của Trường Sơn.
YÊN MÃ SƠN