Năm 1972, sau chiến dịch 81 ngày đêm ở Quảng Trị, Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng nhận định cuộc chiến tranh sẽ còn lâu dài và gian khổ. Muốn bảo đảm thắng lợi, ta phải củng cố mọi mặt về quân sự, chính trị, đặc biệt là công tác hậu cần. Theo tinh thần ấy, Đại đội 17 công binh trực thuộc Trung đoàn 1 nhận nhiệm vụ tạo dựng cơ sở vật chất cho chiến dịch, trong đó có việc xây dựng một địa đạo tại khu vực phòng tuyến An Hô.

Để có một sở chỉ huy cho trung đoàn cũng như các hầm, kho vũ khí và hậu cần cho các chiến dịch tiếp theo trong những năm tới, Đại đội 17 bắt tay ngay vào việc khảo sát, thiết kế và lên phương án thực hiện việc xây dựng địa đạo. "Chúng tôi đã xác định trên bản đồ, cũng như tất cả các yếu tố về địa hình, địa vật, các địa bàn chiến lược trong khu vực và chọn mỏm 1 của dãy An Hô để xây dựng địa đạo này. Khi nhận nhiệm vụ, chúng tôi có vỏn vẹn một bản đồ quân sự, vài cái thước dây, thước thủy bình và một cái la bàn. Tôi là một người lính đã tốt nghiệp Trường Đại học Mỏ địa chất Hà Nội cùng với một đồng đội nữa là anh Trần Quang Đại được giao nhiệm vụ thiết kế và chỉ huy thi công. Đó là thời điểm đầu năm 1973"-anh Nguyễn Lễ kể.

leftcenterrightdel
Một cửa của địa đạo trên dãy An Hô. (Ảnh chụp năm 2010)

Ngày 3-4-1973, Đại đội 2 bộ binh cùng với Đại đội 4 hỏa lực của trung đoàn nổ súng chiếm lại mỏm 1 An Hô và giải phóng toàn bộ 8 mỏm của dãy núi này sau gần 2 tuần giằng co với địch từng mét hào, từng căn hầm. Trong khi Đại đội 2 triển khai củng cố công sự, chốt giữ thì Đại đội 17 bắt đầu khảo sát thực địa. Đến tháng 6-1973, khi đã hội đủ các yếu tố về địa hình, địa vật, cấu tạo địa chất cộng với các yếu tố về thời tiết trong khu vực, các anh bắt tay vào thi công.

Địa đạo được đào từ hai cửa, theo hình chữ U và gặp nhau trong lòng núi. Do khối lượng công việc rất lớn, nếu chỉ Đại đội 17 sẽ không thể hoàn thành được nên Trung đoàn 1 đã cho các đơn vị của K1 và K2 bộ binh phối thuộc với đại đội. Bộ phận thì cùng đào, bộ phận thì vào rừng lấy gỗ chống. Đại đội 17 giữ vai trò chỉ huy công việc, đục lỗ nổ mìn và thường xuyên đo vẽ từng mét để đào sao cho đúng kích thước, đúng hướng như trong thiết kế. Đồng thời, luôn quán triệt với các lực lượng tham gia phải vừa bảo đảm đầy đủ phương tiện, dụng cụ tại chỗ, vừa bảo đảm bí mật, không để địch phát hiện. Bộ phận rèn của đại đội phải bảo đảm đủ các loại đinh đỉa chữ U cho việc chống đỡ hầm, tránh đất đá rơi để bảo đảm an toàn cho bộ đội.

leftcenterrightdel
Anh Nguyễn Lễ (thứ hai, từ trái sang) cùng các đồng đội từng tham gia đào địa đạo trên dãy An Hô.

Các đơn vị thay nhau làm việc 3 ca liên tục suốt ngày đêm để địa đạo được hoàn thành theo đúng dự kiến. Anh Nguyễn Lễ còn nhớ những câu chuyện rất cảm động trong quá trình thi công, đó là khi 2 hướng đường hầm gặp nhau trong lòng núi. Rất khó khăn bởi trang thiết bị thi công thiếu thốn, nhất là các thiết bị kỹ thuật, chỉ lo người thì đào đi lên, người thì đi xuống sẽ không gặp được nhau. Rất may là đến giai đoạn cuối, đo đạc ở bản đồ và trên thực địa khá khớp nhau. Vui biết bao khi bên này đã nghe thấy tiếng búa choòng, cuốc xẻng từ hướng bên kia. "Cuối cùng thì một lỗ thủng đã nối liền hai hướng của đường hầm. Chiến sĩ hai bên gặp nhau, niềm vui vỡ òa trong lòng núi. Chúng tôi ôm lấy nhau như lâu ngày được gặp, mặt mũi anh nào cũng lấm lem nhưng rạng ngời. Áo quần ướt đẫm mồ hôi, còn “thơm” mùi đồng đội. Riêng tôi niềm vui rất khó tả bởi nó có thêm tâm trạng của một kỹ sư địa chất, được mang những kiến thức đã học trên giảng đường áp dụng thành công vào thực tế, mà lại là chiến trường chống Mỹ", anh Nguyễn Lễ bồi hồi nhớ lại kỷ niệm những ngày đào địa đạo.

Cũng phải đến đầu năm 1974, địa đạo mới được hoàn thành và đón những tấn vũ khí đầu tiên, những tấn gạo và nhu yếu phẩm vào đây để phục vụ đời sống, chiến đấu của lực lượng làm nhiệm vụ trong khu vực An Hô và các điểm cao lân cận. Đây cũng là nơi dự trữ hậu cần để chiến đấu và chốt giữ lâu dài trên phòng tuyến Sông Bồ, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, không cho địch lấn chiếm.

Được tin đại đội hoàn thành một địa đạo trên An Hô, sư đoàn cũng như quân khu cùng các đồng chí trong phòng công binh xuống thị sát và vô cùng phấn khởi trước thành công này. Địa đạo có chiều rộng 2m, chiều cao 2m và chiều dài hơn 100m hình chữ U, 2 cửa, bên trong có các kho chứa vũ khí, lương thực, quân nhu và một diện tích đủ cho một ban chỉ huy trung đoàn hay sư đoàn họp bàn và chỉ huy chiến dịch... Địa đạo có quy mô lớn được đào hoàn toàn thủ công. Bằng sự lao động quên mình của các chiến sĩ công binh, sự sáng tạo, dũng cảm trong chỉ huy và tổ chức thi công, hai hướng đường hầm khi gặp nhau trong lòng núi chỉ chệch 40cm so với bản vẽ thiết kế.

Địa đạo này đã giúp cho bộ chỉ huy của Trung đoàn 1, Sư đoàn 324 trú quân để chỉ huy các trận đánh và các chiến dịch. Đồng thời dự trữ vũ khí đạn dược, lương thực, quân nhu cho phòng tuyến An Hô, góp phần giữ vững vùng giải phóng, tạo đà cho chiến dịch giải phóng thành phố Huế và Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước Mùa Xuân 1975... Còn cán bộ, chiến sĩ của đại đội, những người đã cống hiến cả tuổi thanh xuân, nhiều đồng đội của các anh đã ngã xuống nơi đây. Căn địa đạo bề thế trên dãy núi này như chứng tích của một thời hào hùng những năm đánh Mỹ, thế nhưng hầu như không có nhiều người biết đến.

Khi cùng các CCB tìm gặp lãnh đạo xã Hương Nguyên thì được biết, họ có biết về địa đạo này và có ý định báo cáo lên huyện A Lưới nhưng không biết bắt đầu từ đâu vì thiếu thông tin. Sau cuộc gặp chúng tôi hồi tháng 3-2017, lãnh đạo xã Hương Nguyên đã có những động thái tích cực nhằm nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ trình huyện A Lưới để cụm quần thể di tích trên dãy An Hô và căn địa đạo sớm được công nhận là di tích lịch sử cách mạng. Thiết nghĩ, khi quần thể di tích trên dãy An Hô và căn địa đạo được công nhận là di tích lịch sử cách mạng, được quan tâm chỉnh trang, đây có thể sẽ là điểm đến hấp dẫn của các tour du lịch về nguồn. Từ đây, Hương Nguyên, một xã vùng cao biên giới được biết đến nhiều hơn, cuộc sống của bà con các dân tộc ở đây bớt đi những khó khăn...

Bài và ảnh: NGỤY HOÀNG SƠN