Lãnh đạo Ủy ban Kế hoạch Nhà nước có ý định giới thiệu tôi. Đồng chí Nguyễn Hữu Mai nói: Anh Thận (tên thường gọi của đồng chí Trường Chinh) là đồng chí lãnh đạo giữ trọng trách trong Đảng. Gần đây, anh ấy ngày càng quan tâm nhiều hơn các vấn đề kinh tế, đồng chí thư ký giúp việc anh ấy về lĩnh vực này lại sắp nghỉ nên muốn tìm một cán bộ thay thế. Anh lâu nay làm việc ở Vụ Tổng hợp của ủy ban, nắm được tình hình kinh tế chung, chúng tôi thấy anh sang bên ấy là thích hợp.

leftcenterrightdel
Đồng chí Trường Chinh thăm và nói chuyện với cán bộ lãnh đạo tỉnh Hải Hưng, tháng 1-1981. Ảnh tư liệu 
Thu xếp xong công việc và thủ tục ở cơ quan cũ, theo lời hẹn với các anh Hồng Long, Nguyễn Giáp là thư ký của đồng chí Trường Chinh, tôi sang chỗ các anh. Văn phòng bác Thận là dãy nhà một tầng ở ngõ Nguyễn Cảnh Chân, giáp ngay tường sau nhà bác. Tôi đang ngồi nhìn quanh gian phòng, nơi sẽ là chỗ làm việc mới của mình thì đã nghe tiếng guốc của bác Thận đi từ bên nhà sang, tiếp đó là tiếng hỏi ngay ngoài cửa: “Đâu, anh Diễn đâu rồi?”. Bác Thận bắt tay tôi rất chặt, ánh mắt rất vui, vừa hỏi tôi nhiều điều, vừa dắt tôi đi về nhà bác, lên phòng khách ở tầng hai. Bác chỉ cho tôi chỗ ngồi đối diện, chậm rãi mở quyển sổ tay đặt sẵn ở trên bàn lấy ra một tờ giấy đưa cho tôi: “Đây là quyết định của Văn phòng Trung ương tiếp nhận anh về làm thư ký cho tôi, anh đọc đi”. Đợi tôi đọc xong, bác Thận nói cho tôi biết nội dung nhiệm vụ và dặn tôi những điều cần lưu ý khi làm việc với bác. Bác nói giản dị, rõ ràng. Tôi nhớ nhất là ba điều: Phải có tinh thần trách nhiệm cao, tuyệt đối trung thực và giữ bí mật.

Năm 1979, nước ta chịu chấn động nặng nề của các sự kiện xảy ra ở biên giới và của tình hình quan hệ đối ngoại xấu đi sau đó, kinh tế ngày càng khó khăn, việc cung ứng lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng thông thường đều căng thẳng. Trong bối cảnh ấy, những cơ chế, chính sách quản lý kinh tế tập trung, bao cấp ngày càng bộc lộ rõ nhược điểm và tỏ ra không còn phù hợp. Hội nghị Trung ương lần thứ sáu khóa IV họp vào tháng 8 năm ấy lúc đầu chỉ định bàn về Đề án phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng, sau theo yêu cầu của nhiều đồng chí ở Trung ương đã bàn thêm về tình hình và nhiệm vụ trước mắt. Tại hội nghị, cuộc thảo luận về chính sách lương thực diễn ra đặc biệt sôi nổi. Có ý kiến đặt vấn đề Nhà nước ta phải kiên quyết phấn đấu cung ứng đầy đủ nhu cầu vật tư nông nghiệp và hàng tiêu dùng cho nông dân, trên cơ sở đó thu mua của nông dân toàn bộ lương thực, hàng hóa và nhận trách nhiệm bảo đảm nhu cầu lương thực cho toàn bộ khu vực nhân khẩu phi nông nghiệp trong xã hội. Nhiều ý kiến khác cho rằng điều đó là không thực tế vì lâu nay Nhà nước đã rất cố gắng nhưng lượng phân bón, xăng dầu cung ứng cho nông dân theo giá cung cấp chỉ đủ để mua lại một phần lương thực, hàng hóa theo giá nghĩa vụ, trong tình hình đó nếu bắt ép nông dân bán toàn bộ lương thực hàng hóa cho Nhà nước thì nông dân sẽ không đồng tình và sẽ không hăng hái sản xuất.

Mỗi buổi họp Trung ương về, bác Thận lại gọi tôi lên hoặc ghé xuống văn phòng kể cho chúng tôi nghe những ý kiến tranh luận trên hội trường, trao đổi những nhận xét của mình, sau đó bác thường thong thả đi bách bộ quanh sân, vừa đi vừa suy nghĩ. Cuối cùng, bác quyết định phát biểu đề nghị với Trung ương mấy ý đại thể như sau: Nhà nước phấn đấu cung ứng tốt hơn cho nông dân phân bón, xăng dầu và các vật tư nông nghiệp, trên cơ sở đó mua lại lượng thóc tương ứng theo giá nghĩa vụ; ngoài ra, hết sức tranh thủ mua thêm thóc của nông dân theo giá thỏa thuận để có đủ lương thực bảo đảm cung cấp cho những người làm công ăn lương, lực lượng vũ trang và những người sản xuất theo hợp đồng với Nhà nước cùng gia đình của họ. Để nông dân được tự do bán phần thóc hàng hóa còn lại trên thị trường tự do, ở bất cứ nơi nào mà họ muốn, chính thức chấp nhận tồn tại thị trường tự do về lương thực; xóa bỏ ngăn sông cấm chợ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông lương thực trên thị trường cả nước, để những người không sản xuất lương thực và không được Nhà nước bảo đảm cung cấp lương thực có thể mua được lương thực trên thị trường tự do...

leftcenterrightdel
Đồng chí Trường Chinh (thứ hai, từ trái sang) thăm Nông trường chè Bàu Cạn, Gia Lai-Kon Tum, tháng 3-1983. Ảnh tư liệu 
Hôm đó, ở Hội nghị Trung ương về, bác Thận nói với tôi một cách thận trọng nhưng lộ vẻ hài lòng: “Tôi phát biểu xong vấn đề lương thực, thấy nhiều đồng chí Trung ương đồng tình”. Hôm sau lúc đi làm, tôi gặp anh Đậu Ngọc Xuân, thư ký của đồng chí Lê Duẩn ở gần cổng, anh Xuân bảo tôi: Anh về báo cáo với anh Thận là anh Ba (tên thường gọi của đồng chí Lê Duẩn) hoàn toàn tán thành những ý kiến anh Thận phát biểu ở Hội nghị Trung ương hôm qua. Khi tôi báo cáo lại ý kiến ấy của đồng chí Lê Duẩn với bác Thận, bác vui hẳn lên: “Anh Ba nói hoàn toàn tán thành à, thế thì tốt”. Bác ngừng lại một lát rồi hạ giọng nói nhỏ như nói với chính mình: “Thế là anh ấy cũng tán thành cả ý kiến của tôi về vấn đề lương thực đấy”.

Giữa năm 1980, phong trào khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động, mà thực chất là khoán hộ trong nông nghiệp xuất hiện trở lại và lan rộng rất nhanh ở nhiều nơi, trong đó có Hải Phòng. Hè năm đó, bác Thận đi nghỉ ở Đồ Sơn. Biết bác Thận trước đây có lúc đã phê phán nghiêm khắc phong trào khoán hộ ở Vĩnh Phú, xem đó là một chủ trương phá hoại hợp tác xã, anh Bùi Quang Tạo, Bí thư Thành ủy Hải Phòng, khi ra Đồ Sơn thăm bác Thận kể chuyện rất sôi nổi về phong trào lao động của nhân dân Hải Phòng xây dựng cầu, mở rộng các cửa ô, nhưng chỉ nói thoáng qua về chuyện khoán sản phẩm đến hộ, như đây là việc làm tự phát ở một vài nơi, Thành ủy còn đang xác minh làm rõ. Bác Thận biết ý cũng không hỏi sâu thêm. Thực ra, lúc ấy Hải Phòng đang đi đầu phong trào khoán hộ ở miền Bắc, Thành ủy đã ra nghị quyết khẳng định chủ trương mở rộng thực hiện kinh nghiệm của huyện Đồ Sơn về việc này.

Đầu năm 1981, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực tiễn đang diễn ra ở nông thôn, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IV đã ban hành Chỉ thị 100 nổi tiếng về “mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp”, đánh dấu một mốc quan trọng về đổi mới tư duy kinh tế và chính sách phát triển nông nghiệp của Đảng ta. Chính Chỉ thị 100 cùng với những đổi mới về chính sách thu mua và lưu thông lương thực đã góp phần quan trọng phát triển sản xuất lương thực và cải thiện tình hình cân đối lương thực của đất nước, đưa nước ta từ chỗ thường xuyên thiếu lương thực trở thành một nước xuất khẩu gạo lớn sau này.

Khi xem dự thảo Chỉ thị 100, bác Thận không góp ý kiến sửa gì lớn. Bác không tỏ ý gì phản đối việc khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, mà thực chất là khoán hộ trong hợp tác xã nông nghiệp, nhưng cũng chưa tỏ ra nhiệt tình ủng hộ chủ trương này, có vẻ vẫn còn phân vân, hoài nghi. Bác Thận yêu cầu tôi chuẩn bị để cuối tháng Giêng bác đi khảo sát tình hình kinh tế hợp tác xã nông nghiệp. Nhóm thư ký chúng tôi đề nghị bác Thận về thăm Hải Hưng và theo gợi ý của các đồng chí lãnh đạo tỉnh, trước hết mời bác về khảo sát hợp tác xã Đức Hợp ở huyện Kim Thi. Các đồng chí lãnh đạo của tỉnh và của hợp tác xã báo cáo đây là một hợp tác xã khoán việc làm ăn giỏi của tỉnh, sản xuất và đời sống đều khá, gương mẫu đóng góp nghĩa vụ với Nhà nước, đặc biệt là đoàn kết thôn xóm rất ấm cúng. Trong suốt chuyến đi, bác Thận rất vui và nhiều lần khen ngợi hợp tác xã. Cuối buổi, đồng chí chủ nhiệm hợp tác xã cho biết đã nghe trên đài Chỉ thị 100 của Ban Bí thư về mở rộng khoán sản phẩm trong hợp tác xã nông nghiệp, nhưng các đồng chí rất phân vân, chưa định đi theo hướng đó. Bác Thận tỏ ý đồng tình, nhắc lại rằng Chỉ thị 100 có nói khoán kiểu gì là tùy từng hợp tác xã tự quyết định.

Trên đường về, các đồng chí ở tỉnh thành thật báo cáo thêm với bác Thận là những hợp tác xã giỏi như Đức Hợp trong tỉnh không được nhiều lắm, số đông các hợp tác xã vẫn ở trong tình trạng ruộng 5% thì rất tốt, ruộng chung của hợp tác xã thì xấu. Việc nhân rộng mô hình Đức Hợp có khó khăn vì ít hợp tác xã có được cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ giỏi và tận tụy như Đức Hợp. Điều đó làm bác Thận và chúng tôi đều suy nghĩ.

Sau Đức Hợp, bác Thận về thăm một số hợp tác xã có truyền thống làm vụ đông giỏi ở huyện Tứ Lộc. Vụ đông năm đó, nhiều hợp tác xã chia đất trồng màu của hợp tác xã cho các hộ xã viên mượn và thực hiện khoán sản phẩm đến người lao động. Việc này được nông dân rất hoan nghênh, thu hoạch vụ này khá hơn hẳn các vụ trước, nhiều hợp tác xã đang chuẩn bị mở rộng thực hiện khoán sản phẩm cả sang việc trồng lúa trong vụ xuân sắp tới.

Sau đó hơn một tháng, bác Thận lại về khảo sát tỉnh Hà Nam Ninh, lần này bác dặn tôi mời thêm anh Bùi Đình Kế, Phó trưởng Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương và một đồng chí Vụ trưởng Ban Nông nghiệp Trung ương cùng đi. Hà Nam Ninh là tỉnh lúa lớn của miền Bắc và cũng là quê bác Thận. Về Hà Nam Ninh lần này, trước tiên bác Thận đến thăm Hải Hậu, huyện dẫn đầu năng suất lúa và phong trào hợp tác xã của tỉnh, tiếp đó bác về huyện Xuân Thủy và xã Xuân Hồng quê nhà. Ở cả hai huyện lúc ấy phong trào khoán sản phẩm đã lan rộng trong các hợp tác xã trồng lúa. Thành tích thâm canh, phát triển sản xuất và phát triển sự nghiệp văn hóa, giáo dục ở các địa phương trên khiến bác Thận rất phấn khởi. Bác đặc biệt khen ngợi phong trào xây dựng các trường học hai tầng rất khang trang ở Hải Hậu và rất vui khi nghe cán bộ xã Xuân Hồng nói về những dự định phát triển tiểu thủ công nghiệp ở xã. Cuộc gặp mặt của bác Thận với bà con xã Xuân Hồng diễn ra đặc biệt cảm động. Khi bác Thận đi từ nhà mình ra hội trường xã, dân làng ùa đi theo đông vui như trẩy hội. Hội trường xã đông nghẹt, người đứng cả ở các hành lang che lấp các cửa ra vào. Bác Thận mở đầu cuộc nói chuyện: “Lâu nay vì bận công việc của Đảng nên tôi không về thăm được bà con.

Tuy ở xa nhưng trái tim tôi lúc nào cũng hướng về quê hương, về bà con quê nhà”. Nói xong câu ấy, bác Thận đứng lặng một lúc. Cả hội trường im phăng phắc, mọi người đều cảm động...
Chuyến thăm này, bác Thận cũng rất chú ý tìm hiểu tình hình khoán sản phẩm, và lại có dịp được trực tiếp nghe ý kiến phát biểu của nhiều cán bộ và xã viên các hợp tác xã, mà nhiều người là hàng xóm và họ hàng thân quen, hầu hết hoan nghênh chủ trương khoán sản phẩm đến người lao động và đến hộ trong hợp tác xã nông nghiệp. Hôm sau, cuối buổi gặp mặt cán bộ tỉnh Hà Nam Ninh, bác Thận chủ động đề cập Chỉ thị 100 và vấn đề khoán sản phẩm đến hộ trong nông nghiệp. Bác dặn địa phương cần nghiên cứu kỹ Chỉ thị 100 của Ban Bí thư để thực hiện tốt, nhất là bảo đảm đúng 3 mục đích và 5 nguyên tắc của việc khoán được nêu trong Chỉ thị, bàn bạc dân chủ trong hợp tác xã để chọn hình thức khoán thích hợp, kết hợp hài hòa ba lợi ích; không được khoán trắng và chia ruộng đất manh mún, cản trở sử dụng kỹ thuật mới. Đấy là lần đầu tiên bác Thận phát biểu chính thức về Chỉ thị 100 trước công luận; thấy bác tỏ rõ thái độ tán thành Chỉ thị 100, cán bộ dự hội nghị đều vui mừng.
Về sau, bác Thận còn nhiều lần phát biểu bày tỏ đồng tình với Chỉ thị 100 của Ban Bí thư, Quyết định 25/CP về ba phần kế hoạch của Hội đồng Chính phủ, Nghị quyết Trung ương lần thứ sáu về những chính sách khuyến khích cho sản xuất “bung ra” của Ban Chấp hành Trung ương khóa IV, xem đây là những bước mở đầu cần thiết cho đường lối đổi mới toàn diện về kinh tế của Đảng ta sau này.

PHAN DIỄN, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư