QĐND - Từ sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, chiến tranh chống Mỹ ngày càng khốc liệt. Địch tập trung đánh phá, ngăn chặn tối đa sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam. Các đơn vị Quân Giải phóng gặp rất nhiều khó khăn về lương thực.
Một trong những điển hình về thiếu thốn cái ăn tại thời điểm này là Quân khu 5, nhất là Mặt trận 4 (Quảng Đà). Có những lúc Chỉ huy trưởng các đơn vị cùng với Tư lệnh Quân khu phải ngồi tính với Chủ nhiệm Hậu cần từng gốc sắn, từng lon gạo để đặt kế hoạch huấn luyện và tác chiến. Quân khu ủy xác định chủ trương trước hết tập trung giải quyết lương thực cho bộ đội, chỉ đạo tổ chức “chiến dịch” gom gạo ở đồng bằng để nuôi quân. Ban đêm, từng đại đội, tiểu đoàn cử bộ đội đi theo cán bộ địa phương đến các thôn, ấp, lấy gạo, mua thực phẩm khô, mắm, muối. Nhiều cô gái ở Bình Định, Quảng Ngãi, Phú Yên... như Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Thị Vân, Đinh Thị Út… đã gùi 70-80kg, liên tiếp hết chuyến này đến chuyến khác. Ngoài số lương thực do dân cung cấp, quân nhu còn móc nối với cơ sở cách mạng để mua gạo của lính Nam Triều Tiên (quân đánh thuê cho Mỹ). Việc thu mua gạo ở đồng bằng thực sự là cuộc chiến đấu, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ của ta đã bị thương vong.
 |
| Nông dân vùng giải phóng hăng hái gánh gạo nộp vào kho để chuyển ra tiền tuyến. |
Do địch thường xuyên đánh phá, việc vận chuyển hậu cần, đặc biệt là vận chuyển gạo từ miền Bắc vào các chiến trường phía Nam vô cùng khó khăn. Mặt khác, kho tàng dã ngoại, mưa lũ kéo dài, khí hậu ẩm ướt nên gạo xuống cấp rất nhanh. Trước tình hình ấy, Viện Nghiên cứu kỹ thuật ăn mặc thuộc Cục Quân nhu, do Thượng tá Từ Giấy-Cục phó Cục Quân nhu phụ trách, nảy ra một sáng kiến độc đáo: Thả gạo trôi theo đường thủy, nhằm đưa gạo vào các chiến trường miền Nam được nhanh. Một vấn đề đặt ra là, phải làm thế nào để trong quá trình “đi B” như thế, gạo vẫn giữ được chất lượng và thất thoát ít nhất.
Việc đầu tiên, viện bắt tay nghiên cứu kỹ thuật bao gói gạo đồ, tiến hành thử nghiệm loại bao đựng gạo có 4 lớp túi: Lớp trong cùng và lớp ngoài cùng bọc bao PVC (pô-li-vi-nin-clo-rua) và PE (pô-li-ê-ty-len), miệng dính kín thành lớp màng bảo vệ, ngăn được nước. Hai lớp ở giữa bằng sợi đay đủ tiêu chuẩn kỹ thuật. Sau đó mang bao có 4 lớp túi này đựng đầy gạo đồ, tiến hành bảo quản 6 tháng trong các điều kiện môi trường tương ứng với tiến trình gạo đi từ hậu phương lớn miền Bắc đến với chiến sĩ ta tại các chiến trường ở tiền tuyến lớn miền Nam. Đó là đưa các bao gạo đi chôn dưới cát gần bờ biển Sầm Sơn, dưới đất cao và dưới ruộng nước tại vùng Xuân La (Từ Liêm, Hà Nội), thả trôi 5km ở suối Lương Sơn (Hòa Bình), cất trong Kho 205 (Cục Quân nhu) và kho của Viện Nghiên cứu kỹ thuật ăn mặc (ở Hà Nội) để đối chứng. Kết luận khảo sát sau một năm bảo quản, thử nghiệm như trên, hạt gạo vẫn sáng, không có mùi hôi, không mốc, mọt; phẩm chất thay đổi không đáng kể so với thời điểm ban đầu.
Từ sáng kiến này, những năm 1970-1972, Cục Quân nhu đã tổ chức tự bao gói hàng vạn tấn gạo, bắt đầu một phương thức mới vận chuyển gạo ra chiến trường rất hiệu quả. Đó là thả trôi gạo trên sông, trên biển vào Nam đánh giặc. Sáng kiến nói trên được áp dụng ngay phục vụ các chiến dịch. Trong cuộc tiến công chiến lược của ta trên chiến trường Trị Thiên năm 1972, ngay từ ngày đầu nổ súng (30-3-1972), đồng thời với việc vận tải bằng phương tiện cơ giới, quân nhu chiến dịch đã tổ chức thả gạo đóng trong bao 4 lớp túi trôi trên các sông: Đắc Rông, Ba Lòng, từ Làng Cót qua Tà Niên, tới Văn Vân để giao cho Cụm Hậu cần 3 đóng tại khu vực Ba Đa trên Đường 15N. Đến cuối tháng 4-1972, tổng số gạo vận chuyển bằng đường sông đã đạt 617 tấn. Trong Chiến dịch Nguyễn Huệ, tiến công địch trên các mặt trận miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, tình huống chiến dịch diễn biến rất phức tạp, khẩn trương. Nhiệm vụ công tác quân nhu chiến dịch hết sức nặng nề, khó khăn. Tuy vậy, trong giai đoạn thực hành chiến dịch từ tháng 4-1972 đến tháng 1-1973, quân nhu tiến hành ba đợt bảo đảm cho bộ đội tác chiến, đạt đủ tiêu chuẩn lương thực hơn 700 gam/người/ngày…
Cảm xúc trước sự kiện gạo trôi sông đi đánh giặc, Đại úy Trần Đức Long, nguyên Trợ lý nghiên cứu B3 thuộc Cục Quân nhu (Tổng cục Hậu cần) đã viết: “Ơi đoàn nghiên cứu thả trôi/ Khu rừng Quảng Trị, ai người nhớ không?/ Nhớ tiếng hát, dòng sông, con suối/ Tiếng chim rừng, gió núi Trường Sơn/ Nhớ khi nắng lửa, mưa nguồn/ Suối reo thác đổ, nước tuôn vào dòng…/ Gạo bao gói, thả sông, thả biển/ Một đặc thù vận chuyển Việt Nam/ Chưa từng thấy ở thế gian/ Mà trong đánh Mỹ, Việt Nam đã dùng/ Dưới những khóm cây, đường ven suối/ Chiến sĩ ta đóng gói, lồng bao/ Chặt tre, chặt nứa làm sào/ Dùng cây để đẩy, dùng sào để đưa…/ Sức nước đẩy hơn ngàn vạn tấn/ Hình thành đường tiếp vận nuôi quân/ Gian nan, có lính Hậu cần/ học theo mưu lược Ngô-Trần tổ tiên…”.
PHẠM QUANG CHUNG