Giếng cổ ngàn năm bao gắn bó/ Miếu thiêng thủy quý nhân đa thọ, chậm rãi ngâm câu đối viết ở miếu cổ thờ thần giếng, cụ Phan Đình Khoa, 82 tuổi, cho biết: “Giếng có từ bao giờ, dân làng cũng không biết. Ngày nhỏ, tôi có nghe ông nội kể rằng: Từ thuở sơ khai, khi những cư dân đầu tiên của làng đến đây để khai hoang, lập ấp, nhờ thần báo mộng có “mạch nước mắt rồng” nên đào được mạch khơi nước thiêng quanh năm trong xanh, không bao giờ cạn, cung cấp nước không chỉ cho dân làng mà còn cho các vùng lân cận. Người dân lập miếu thờ thần giếng và hết sức tôn kính giếng. Vào ngày lễ, Tết, nhân dân tổ chức rước thánh thủy từ giếng để dâng thánh Cao Sơn (thành hoàng làng) và Phù Đổng Thiên Vương cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi”.

leftcenterrightdel
 Giếng cổ làng Quan Âm.

Hàng nghìn năm nay, giếng làng Quan Âm đã nuôi dưỡng hàng trăm thế hệ người dân và trường tồn cùng với sự thăng trầm của làng Quan Âm cũng như lịch sử đất nước. Giếng cổ nằm ở đường Ven Hồ (xưa gọi là đường sắc vua-đường rước sắc vua phong thánh cho đình làng để thờ). Trước là giếng đất với đường kính rộng 16m, nhưng nay đã được trùng tu, xây dựng trong khuôn viên rộng gần 1.000m2, có tường bao che ngói đỏ, sân rộng và cây xanh tươi tốt để làm chỗ nghỉ ngơi, sinh hoạt tập thể cho người dân trong làng. Thành giếng được kè xây tường bê tông cốt thép gắn những tấm đá xanh được chạm khắc tinh xảo theo bộ tứ quý (tùng, cúc, trúc, mai). Sân lát đá xẻ theo hình rẻ quạt. Cửa là đôi rồng theo tích “lưỡng long hộ cửa”. Đối diện với cửa giếng là cửa đường hầm vào địa đạo được phục dựng. Gần đấy là miếu thờ thần giếng. Với cảnh quan sạch sẽ, thoáng mát, dáng vẻ cổ xưa, giếng cổ là một di sản văn hóa và tinh thần của làng Quan Âm.

Anh Nguyễn Văn Châu, Trưởng thôn Quan Âm giới thiệu: “Trước đây, giếng cổ của làng là giếng đất. Xung quanh cây cối tốt tươi. Điều đặc biệt là đất ở giếng không nứt, không lở nên người làng thường làm lễ xin đất về để trình đất làm cối xay thóc”.

Năm 1948, khi thực dân Pháp đến địa bàn xã Bắc Hồng dựng bốt, lập tề, hà hiếp nhân dân, để kháng chiến đánh địch, ông Phan Văn Thục (Thôn đội trưởng thôn Quan Âm) tổ chức du kích và nhân dân đào địa đạo. Địa đạo được đào dưới rặng tre chạy quanh làng, gồm nhiều đường lên xuống và một trong những cửa chính được trổ ra thành giếng của làng. Để vào được, cần bí mật lặn xuống giếng chui vào và ngoi lên địa đạo. Ra vào địa đạo theo lối này bảo đảm giữ được bí mật vì du kích và các đồng chí lãnh đạo cách mạng có thể đóng giả là người dân ra giếng lấy nước và với sự linh thiêng của giếng, kẻ thù cũng không dám mạo phạm, sục sạo vì sợ thần linh quở phạt. Bên cạnh đó, cửa vào còn là nguồn nước uống cho du kích nếu địch càn lâu ngày.

Quá trình đào địa đạo, để che mắt quân địch, người dân để đất vào quang gánh, khi đi làm đồng mang ra chuôm đổ. Với sự chung sức quân-dân, địa đạo ngày càng rộng và dài, hình mái vòm với chiều cao trung bình 1,5m, rộng 1m, dài hàng trăm mét chạy quanh làng.

Trong kháng chiến, dù địch nhiều lần càn quét, nhiều dân làng bị chúng bắt và tra tấn dã man, nhưng bí mật về địa đạo vẫn được giữ kín. Năm nay tuy đã gần 90 tuổi và bị tai biến nhiều lần nhưng nhắc đến giếng cổ, cụ Hòa, trước đây là du kích làng Quan Âm, vẫn nhớ từng chi tiết: “Ngày ấy, địch càn quét liên tục. Chúng biết có địa đạo bí mật nên đã bắt dân làng để tra khảo. Thế nhưng dù bị tra tấn thế nào thì từ người lớn tuổi đến trẻ nhỏ đều nhất mực không khai. Lần ấy, đồng chí Nguyễn Văn Dư, người làng Quan Âm, vừa bố trí cho đồng đội xuống địa đạo và ngụy trang lại đường hầm, chưa kịp ẩn náu thì bị giặc bắt. Chúng chặt tre làm gậy treo đồng chí lên, vừa tra tấn vừa dụ dỗ. Đồng chí một mực không khai và đã bị địch bắn chết. Hay đồng chí Nhật, hồi ấy chỉ mới 15, 16 tuổi cũng bị giặc bắt, đánh đập tra tấn, nhưng Nhật vẫn một mực bảo vệ địa đạo mật”.

Cũng ở địa đạo này, vào tháng 10-1952, lúc ấy Thôn đội phó Hòa cùng hai đồng chí Dư và Dũng đang về làng thì bất ngờ gặp quân địch đi càn. Không kịp theo đường chính ở giếng, các đồng chí đành đi vào cửa hầm ở bãi tre cách giếng chừng chục mét. Xuống dưới địa đạo, mọi người nhanh chóng vòng ra cửa giếng, lấy phên đất che chắn ở đoạn hầm nhỏ tạo thành gian biệt lập để trú ẩn. Nếu địch có phát hiện và truy sát thì ra địa đạo bằng cửa ở thành giếng rồi tùy tình hình quyết tử hoặc lợi dụng địch sơ hở để ẩn náu và thoát vây. Quả nhiên, địch phát hiện miệng hầm và cho quân xuống sục sạo. Như được thần linh phù hộ, chúng lại hè nhau đi ngược chiều với cửa giếng. Sau thấy địa đạo nhiều lối, chúng sợ bị phục kích nên hò nhau chui lên. Địch ném lựu đạn hơi cay vào địa đạo hòng làm du kích ngạt thở phải chui ra. Đến sẩm tối, thấy không ai ra, địch lấp miệng hầm, niêm phong lại. Trước khi ra về, chúng tuyên bố, nếu dân làng làm mất niêm phong miệng hầm, chúng sẽ giết cả làng.

Để cứu ba người, dân làng đã nghĩ ra kế sau khi đào miệng hầm lên cứu người sẽ lấp lại và dùng trâu quần quanh miệng hầm để địch tưởng là mất niêm phong vì trâu chứ không phải do dân đào. Ba đồng chí Hòa, Dư, Dũng được cứu sống; còn địch sau khi nhận “hối lộ” cũng không truy cứu chuyện mấy con trâu quần làm mất niêm phong vì nghĩ nếu du kích có còn ở dưới thì cũng chết ngạt vì khói độc từ lâu. Vậy là địa đạo càng trở nên kín đáo và chỉ có đường vào duy nhất là ở giếng làng.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, địa đạo lại được dân làng dùng làm nơi tránh trú bom đạn. Hòa bình lập lại, để xây nhà, làm các công trình dân sinh, đường hầm địa đạo đã bị lấp. Rồi người dân làm giếng khoan, bể lọc nên giếng làng cũng không còn là nơi sinh hoạt cộng đồng như xưa, chỉ nằm lặng lẽ soi bóng cây cối, mây trời. Năm 2016, anh Phan Văn Sáng, một doanh nghiệp thành danh, con cháu của cụ Phan Văn Thục đã thành tâm trùng tu xây dựng giếng. Dịp Tết Đinh Dậu-2017, công trình được hoàn thành.

Vậy là ước nguyện của dân làng Quan Âm về giữ gìn và tôn tạo giếng đã hoàn thành. Giếng thiêng tượng trưng cho khí tiết của người làng Quan Âm gắn bó son sắt với công cuộc dựng nước và giữ nước. Người dân làng Quan Âm mong các cấp chính quyền và cơ quan chức năng tổ chức xét duyệt và công nhận giếng làng là di tích lịch sử, để nơi đây vừa là nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng và tinh thần, vừa là “địa chỉ đỏ” để giáo dục truyền thống cho các thế hệ con cháu làng Quan Âm.

 Bài và ảnh: VIỆT HÀ