6 Anh hùng LLVT nhân dân ấy là: Trần Văn Xuân, Nguyễn Văn Thoa, Nguyễn Văn Toản, Nguyễn Ngọc Chiến, Vũ Danh Tòng và Nguyễn Quang Lộc. Mới đây, họ đã có cuộc hội ngộ tại buổi lễ đón danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho đồng đội Nguyễn Ngọc Chiến do Trung đoàn 64 tổ chức. Dịp này, cán bộ, chiến sĩ đơn vị được các anh hùng kể lại về thời kỳ xông pha trận mạc với loại vũ khí mới được trang bị cho lực lượng phòng không.

leftcenterrightdel

6 Anh hùng LLVT nhân dân (từ phải qua): Trần Văn Xuân, Vũ Danh Tòng, Nguyễn Văn Toản, Nguyễn Ngọc Chiến, Nguyễn Quang Lộc và Nguyễn Văn Thoa.

 

Anh hùng LLVT nhân dân Trần Văn Xuân mở đầu câu chuyện về sự ra đời của tên lửa A72 ở Việt Nam: “Năm 1971, Quân đội ta được Liên Xô viện trợ một loại vũ khí mới là tên lửa 9K32 “Strela-2”, bộ đội ta gọi là tên lửa vác vai A72 hay “mũi tên xanh”. Để bảo đảm bí mật, trong thời gian huấn luyện 4 tháng, chúng tôi không liên lạc thư từ với bất kỳ ai, kể cả người thân. Cuối năm 1971, Tiểu đoàn 172 hành quân vào Nam thực hiện nhiệm vụ. Do tên lửa có đặc điểm gọn nhẹ, dễ cơ động, khả năng sát thương cao nên đơn vị tham gia chiến đấu khắp các tỉnh ở Nam Bộ... Trong chúng tôi, đồng chí Nguyễn Văn Thoa là người bắn rơi nhiều máy bay địch nhất với 13 chiếc”.

Trong bộ quân phục chỉnh tề với quân hàm thiếu úy, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Thoa đứng dậy hướng mặt về các chiến sĩ trẻ rồi kể liền mạch: “Ngày ấy, chúng tôi cũng mười chín, đôi mươi như nhiều chiến sĩ ngồi đây. Trận đánh đầu tiên của chúng tôi ở Đường 13, từ cầu Cần Lê xuống Chơn Thành (Bình Long) vào tháng 4-1972. Trước khi vào trận, anh em rất háo hức và quyết tâm, nhưng khi thực hành bắn, tôi và nhiều đồng chí khác loay hoay mãi mà không ai bắt được mục tiêu. Đêm hôm ấy, tôi không ngủ, cứ trăn trở tại sao được huấn luyện chu đáo nhưng khi ra chiến đấu không thực hành được? Tôi lấy tài liệu ra nghiên cứu và hiểu rằng, tên lửa vác vai A72 áp dụng nguyên lý đầu dò tầm nhiệt, bám theo luồng khí xả của động cơ máy bay hoặc sức nóng của động cơ máy bay. Cấu tạo của tên lửa A72 bao gồm đầu đạn, cơ cấu phóng và pin. Một quả pin chỉ có thể sử dụng để ngắm bắn mục tiêu trong vòng 60 giây, nếu quá thời gian đó mà chưa bắn được thì vũ khí coi như hỏng. Nắm chắc tính năng trên, tôi cứ thao tác chay các động tác vận hành tên lửa A72 một mình trong đêm.

Ngay hôm sau, khi vào trận đánh, địch lại tiếp tục cho máy bay đổ quân đánh phá. Rút kinh nghiệm trận trước, tôi bình tĩnh thao tác và chiếc trực thăng HU-1A bị bắn hạ, qua đó củng cố thêm niềm tin cho đơn vị. Với tôi, kỷ niệm đáng nhớ nhất là đã bắn rơi chiếc máy bay C-130 của địch ở phía bắc sân bay Tân Sơn Nhất vào lúc 9 giờ 30 phút, ngày 30-4-1975, tức là chỉ khoảng hai tiếng đồng hồ trước khi lá cờ giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Đến thời điểm hiện tại được xác nhận thì đây là chiếc máy bay cuối cùng của đế quốc Mỹ bị bắn rơi trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam”.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, với nhiệm vụ chủ yếu là đi phối thuộc với các đơn vị bộ binh tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam, Tiểu đoàn 172 đã tham gia đánh 484 trận, bắn rơi 157 máy bay gồm 21 kiểu loại, trong đó có 134 chiếc rơi tại chỗ. Với quân số không nhiều, vũ khí kém xa địch, nhưng nhờ cách đánh sáng tạo, mưu trí, dũng cảm của các xạ thủ, tên lửa A-72 - “mũi tên xanh” thực sự là nỗi kinh hoàng của Mỹ-ngụy. Có những chiến công mà ngay cả các chuyên gia Liên Xô cũng không dám tin. Theo tính năng, cấu tạo của tên lửa A72 không thể tiêu diệt được máy bay không người lái, nhưng vào ngày 15-1-1975, xạ thủ Nguyễn Văn Toản đã bắn rơi chiếc máy bay không người lái tại vùng giải phóng Lộc Ninh (Bình Phước). “Sau trận đánh đặc biệt ấy, tôi được cấp trên thưởng Huân chương Chiến công, danh hiệu “Dũng sĩ diệt máy bay Mỹ” và đơn vị còn được thưởng hai con bò để liên hoan mừng chiến thắng”-Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Toản nhớ lại.

Bài và ảnh: NGUYỄN CHÍ HÒA