Khởi nghĩa Thái Nguyên là một trong những dấu mốc quan trọng trong lịch sử chống thực dân Pháp của nước ta. Đội ngũ những người yêu nước mà chủ chốt là giới nhân sĩ bị tù đày ở Thái Nguyên, những binh sĩ người Việt trong quân đội Pháp dưới quyền chỉ huy của Đội Cấn, các tầng lớp nhân dân đã tình nguyện tham gia và chiến đấu quyết liệt. Đây cũng là cuộc khởi nghĩa gây tiếng vang lớn và thành công trong tình hình thực dân Pháp và tay sai luôn đàn áp rất mạnh.
Cuộc khởi nghĩa thành công, Trịnh Văn Cấn và Lương Ngọc Quyến cùng các đồng chí của ông đã tuyên bố “Thái Nguyên độc lập”, lấy cờ năm sao làm quốc kỳ, được nhân dân nô nức hưởng ứng. Quân khởi nghĩa đã vạch ra kế sách liên kết với các vị thủ lĩnh khác, vận động quần chúng nhân dân các tỉnh lân cận quyết tâm đánh đuổi giặc Pháp xâm lược, giành độc lập dân tộc, khiến thực dân Pháp và bè lũ tay sai hết sức hoảng sợ.
    |
 |
Đội Cấn (tức Trịnh Văn Cấn) và Lương Ngọc Quyến (bên phải) hai thủ lĩnh của cuộc Khởi nghĩa Thái Nguyên. Ảnh tư liệu
|
Lương Ngọc Quyến sinh năm 1885, tại phố cổ Hàng Đào (Hà Nội), là con của cụ Lương Văn Can, một danh Nho nổi tiếng đương thời. Cụ Lương Văn Can cùng với cụ Phan Bội Châu và các chí sĩ thời đó luôn dành hết tâm can chí hướng mưu đồ việc nước. Cụ Lương Văn Can đã sớm cùng với cụ Phan Bội Châu chủ trương Phong trào Đông Du, đưa những thanh niên ưu tú nhất của Việt Nam sang du học tại Nhật Bản để thực hành phương lược canh tân đất nước. Nếu như ở cụ Phan Bội Châu luôn là sự quyết liệt, quyết tâm bạo động cách mạng, sử dụng vũ lực và các nguồn lực trong, ngoài nước để đánh đổ thực dân Pháp thì cụ Lương Văn Can còn thêm sự trầm hậu, tìm mọi cách khơi thông, liên kết các vị thủ lĩnh trong nước, sử dụng trí lực và khí lực của người Việt Nam để giành độc lập. Hai cụ đã trở thành hai tấm gương sáng dẫn dắt giới sĩ phu yêu nước trong một giai đoạn cách mạng. Chính cuộc đời và tấm gương hoạt động cách mạng, đấu tranh quyết liệt không quản thân mình của các cụ đã hấp dẫn những thanh niên ưu tú khắp 3 miền Bắc-Trung-Nam tham gia Phong trào Đông Du và sau này trở thành những nhà chí sĩ, nhân vật yêu nước nổi tiếng thời kỳ cận đại, là một trong những nền tảng quan trọng trong các phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dẫn dắt.
Lương Ngọc Quyến từ nhỏ đã được gia đình cho ăn học cẩn thận. Vốn bản tính thông minh, hiếu học, sôi nổi, luôn ưa thích các hoạt động xã hội, Lương Ngọc Quyến sớm nổi trội trong số thanh niên yêu nước bấy giờ tại Hà Nội. Bản thân Lương Ngọc Quyến rất hâm mộ và chịu nhiều ảnh hưởng từ cụ Phan Bội Châu, luôn coi cụ Phan là một lãnh tụ tối cao của phong trào yêu nước, nguyện phấn đấu, học tập, hy sinh theo tấm gương của cụ.
Cụ Phan Bội Châu cũng rất yêu mến và kỳ vọng ở chàng thanh niên Lương Ngọc Quyến-một trong những du học sinh sang Nhật Bản đầu tiên của Phong trào Đông Du năm 1905. Trong tác phẩm “Ngục trung thư”, Phan Bội Châu đã viết về Lương Ngọc Quyến như sau: “Tháng 10 năm ấy (Ất Tỵ 1905), tôi đến Hoành Tân về ở nhà trọ cũ, thấy một vị thanh niên học sinh ta, Lương quân Lập Nham đã tới ở trước đó rồi. Tôi xem ra người thật có khí phách hăng hái, đầu tóc còn để bờm xờm. Dò hỏi mới biết Lương quân bỏ nhà đi trốn sang Nhật trơ trọi một thân, lúc lên đến bến thì hành trang vừa cạn, trong túi chỉ còn vẻn vẹn có ba xu, không hơn không kém. Thấy thế tôi vừa mừng vừa chưng hửng. Vì bạn nhỏ tuổi nước ta, một thân một bóng mà dám liều mệnh xông pha sóng gió muôn trùng đến một nước thuở nay mình chưa quen biết bao giờ, Lương quân chính là người thứ nhất vậy”.
Khi cùng các bạn đồng chí chủ trương Phong trào Đông Du, cụ Phan Bội Châu luôn đích thân dẫn dắt và làm việc với những nhân vật nổi tiếng ở Nhật Bản để tranh thủ các nguồn lực cho du học sinh. Khi đế quốc Nhật ngầm bắt tay với người Pháp để trục xuất Phong trào Đông Du, cụ Phan Bội Châu đã tranh biện với chính phủ của Nhật hoàng rất quyết liệt.
Bối cảnh khi đó, những thanh niên ưu tú nhất của Việt Nam trong Phong trào Đông Du đã không quản thân mình, đem hết trí tuệ và nghị lực theo học các lĩnh vực mũi nhọn cả về chính trị, quân sự, khoa học kỹ thuật, cũng là kỳ vọng của cụ Phan Bội Châu và các nhà chí sĩ với các thanh niên ưu tú của Đông Du.
Trong tình hình đó, chàng thanh niên Lương Ngọc Quyến vừa tròn 20 tuổi đã nhận được sự tin cậy đặc biệt của cụ Phan Bội Châu và sự khâm phục, cảm mến của các bạn đồng trang lứa. Lương Ngọc Quyến càng ý thức sâu sắc chủ trương cầu học toàn diện trong công cuộc Đông Du và đã đem hết ý chí, nghị lực của mình trong việc học hành, tiếp thu các kiến thức về chính trị, quân sự, khoa học kỹ thuật, văn hóa, lịch sử đặng sau này giúp ích cho đất nước.
    |
 |
| Các nhà văn, nhà nghiên cứu tại Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam (tỉnh Thái Nguyên). Ảnh: PHÙNG SƠN |
Nhận rõ tài năng và khí phách của Lương Ngọc Quyến, cụ Phan Bội Châu và các nhà lãnh đạo Phong trào Đông Du đã đưa Lương Ngọc Quyến và một số thanh niên ưu tú sang học tại Trường Chấn Võ. Kết thúc khóa học, Lương Ngọc Quyến đỗ thủ khoa. Điều này càng khẳng định tài năng về quân sự và kiến thức toàn diện của Lương Ngọc Quyến.
Năm 1914, trước các thông tin từ trong nước chuyển sang, trước tình hình đất nước đang diễn biến khẩn trương, thực dân Pháp đàn áp đẫm máu các phong trào đấu tranh của giới sĩ phu yêu nước, Lương Ngọc Quyến quyết định về nước, ông luôn ôm chứa trong lòng tinh thần giành độc lập dân tộc, quyết đem hết thực tài, thực học của mình cùng các nhà chí sĩ tổ chức khởi nghĩa. Chí khí lớn lao ấy rất trùng hợp với chí khí và khát vọng của Đội Cấn, để hai ông là hai vị thủ lĩnh-ngọn cờ quyết định cuộc Khởi nghĩa Thái Nguyên.
Trên đường từ Trung Quốc bí mật về Sài Gòn để mưu cầu việc lớn, Lương Ngọc Quyến bị bọn tay sai thực dân truy lùng gắt gao. Ông phải trốn sang Hương Cảng (Trung Quốc) nhưng bị cảnh sát Anh bắt đưa trở về Việt Nam. Bọn chúng trao trả Lương Ngọc Quyến cho thực dân Pháp và ông lập tức bị coi là phần tử cực kỳ nguy hiểm, bị tống biệt giam tại Hỏa Lò. Ngày 25-7-1916, lo sợ trước tình hình Lương Ngọc Quyến liên kết và lãnh đạo các tù nhân nổi loạn, thực dân Pháp đã đày ông lên nhà tù ở Thái Nguyên. Chính thời gian này, Lương Ngọc Quyến đã gặp và vận động Trịnh Văn Đạt (Đội Cấn) vào Việt Nam Quang phục hội. Chí lớn gặp nhau. Mây rồng hội tụ. Anh hùng trọng anh hùng. Tất cả đều vì một Việt Nam độc lập chính là khát vọng và chí hướng lớn lao của hai vị thủ lĩnh.
Cuộc Khởi nghĩa Thái Nguyên diễn ra đêm 30, rạng sáng 31-8-1917 chính là một dấu mốc lịch sử rất quan trọng của cách mạng Việt Nam thời cận đại dưới sự lãnh đạo của Đội Cấn và Lương Ngọc Quyến cùng các đồng chí, các tầng lớp nhân dân đã gây tiếng vang lớn, tạo tiền đề cho công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc sau này. Đội Cấn và Lương Ngọc Quyến xứng đáng là những vị anh hùng trong lịch sử đất nước chúng ta, đúng như tinh thần tuyên ngôn của cuộc khởi nghĩa do hai ông lãnh đạo. Sáng 4-9-1917, quân Pháp tấn công vào trung tâm tỉnh lỵ. Lương Ngọc Quyến đã hy sinh tại địa phận Vô Tranh, Phú Lương, Thái Nguyên.
Sự hy sinh của Lương Ngọc Quyến trong Khởi nghĩa Thái Nguyên đã cho thấy tinh thần chiến đấu của ông đến hơi thở cuối cùng vì nền độc lập cho dân, cho nước. Trong tình thế ngặt nghèo, ông vẫn tỏ rõ khí phách và truyền đi tinh thần chiến đấu bất khuất tới nghĩa binh và nhân dân. Cuộc đời hoạt động cách mạng và những cống hiến của Lương Ngọc Quyến đã toát lên khát vọng giành độc lập dân tộc và tinh thần sẵn sàng hy sinh tính mạng của mình để thực hiện khát vọng ấy. Đó chính là tinh thần bất diệt của người yêu nước trước họa ngoại xâm, cũng là con đường nhất quán mà Lương Ngọc Quyến đã chọn.
Đại tá, nhà văn PHÙNG VĂN KHAI