Hành trình của những vết chân lạ
Ama Trang tên thật là Phạm Thành Hân, sinh năm 1928, quê ở Quảng Nam. Đầu thập niên 1960, Trường Sơn còn là một vùng thâm u, chỉ có những lối mòn hoang dại men theo triền đá. Rồi một ngày, rừng già bỗng xôn xao bởi những vết chân lạ. Những bước chân âm thầm nhưng quyết liệt như mũi tên lao về phía trước, như cánh chim báo bão báo hiệu một cuộc chuyển mình vĩ đại của lịch sử.
Trong đoàn quân ấy có một thanh niên nhỏ nhắn nhưng bước đi dũng mãnh như dòng thác mùa lũ. Nhưng rồi, giữa chặng đường vạn dặm, anh bắt đầu tụt lại. Mỗi lần băng qua vực thẳm hay leo vách đá tai mèo, gương mặt anh lại co rúm vì đau đớn. Đồng đội bàng hoàng phát hiện chân anh rỉ máu. Một vết đạn cũ từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp găm sâu trong da thịt bao năm qua, nay bỗng thức giấc hành hạ.
“Tại sao đồng chí lại lừa dối tổ chức?”, vị trưởng đoàn hỏi trong xót xa lẫn giận dữ.
Anh nhìn thẳng, giọng đanh thép nhưng nghẹn ngào: “Tôi giấu bệnh nhưng tôi không lừa dối tổ chức. Tôi có thể sống an nhàn bên vợ con ở miền Bắc, nhưng quê hương đang rên xiết dưới gót giày quân thù. Đã lên đường là chấp nhận hy sinh. Xin hãy để tôi đi!”.
Lòng quyết tâm đó đã khiến tất cả phải khuất phục. Anh tiếp tục hành quân bằng ý chí sắt đá, bằng chiếc gậy mây và tình thương của đồng đội. Khi chạm tay vào đất mẹ Tây Nguyên, những người lính phong trần ấy đã khóc. Đó là những giọt nước mắt vì chiến thắng chính bản thân mình.
    |
 |
Già làng Ama Trang ở Tây Nguyên, năm 1963. Ảnh chụp lại
|
Một mình nhen lửa giữa đại ngàn
Về đến Đắk Lắk, anh không chọn vị trí an toàn mà xung phong vào “vùng trắng” Nam Sông Ba. Nơi đây, phong trào cách mạng còn sơ khai và kẻ thù đang thực hiện chiến dịch “tát nước bắt cá” tàn khốc.
Hành trang của anh chỉ có 1 khẩu súng, vài viên thuốc quá hạn và 1 nhúm muối được chia nhỏ đến mức mỗi bữa chỉ dám nhấm nháp vài hạt. Để sống được với dân, anh học tiếng Ê Đê như một học sinh miệt mài, chăm chỉ. Chữ viết lên giấy, chữ viết vào lòng bàn tay. Khi mồ hôi làm nhòe nét mực, anh khắc nó vào trí não. Nửa đêm bật quẹt lửa soi chữ, đọc lẩm nhẩm cho đến khi hơi thở hòa vào ngôn ngữ của đại ngàn.
Có những ngày muối cạn, anh tìm lại mảnh lá chuối cũ của 3 ngày trước, chấm cái lưỡi đắng ngắt vào chút vị mặn đã khô héo để đánh lừa cơn đói. Nhưng cái đói không đáng sợ bằng sự cô độc. Giữa rừng sâu, anh gửi nỗi nhớ về Việt Trì xa xôi, nơi có đứa con gái nhỏ tên Trang. Anh mường tượng hơi ấm của con, lấy đó làm tấm áo giáp để chống chọi với cái lạnh của đêm rừng và sự săn đuổi gắt gao của kẻ thù.
Uy danh Ama Trang
Về với đồng bào, anh dạy chữ cho con trẻ, dạy người dân cách trồng trọt, chăn nuôi. Anh cùng đồng bào nhiều lần tổ chức các trận phục kích khiến kẻ địch hoang mang, lo sợ mỗi khi xâm nhập vùng đất của người Ê Đê. Bằng sự chân thành và lòng dũng cảm, anh dần có được tình cảm quý mến của đồng bào. Trên hành trình đi từ buôn làng này đến buôn làng khác, anh tuyên truyền, động viên bà con tin theo cách mạng. Còn bà con buôn làng đã trìu mến đặt và gọi anh là “già làng Ama Trang” để tỏ lòng yêu thương, kính trọng.
Kẻ thù lồng lộn săn tìm anh như săn một mãnh thú. Chúng vây hãm các buôn làng, nhưng chúng sợ hãi bản làng của những người hủi. Chính nơi bị thế gian ruồng bỏ ấy, Ama Trang đã đến. Anh nắm lấy những bàn tay rụng đốt, anh chia sẻ niềm tin cách mạng. Khi giặc bao vây, chính những người dân khốn khổ ấy đã dùng tính mạng để bảo vệ anh.
Cái tên Ama Trang trở thành nỗi khiếp sợ của quân giặc và là đức tin của người dân. Một lần bị phục kích bên dòng Srêpốk, đạn Mỹ găm đè lên vết thương cũ của đạn Pháp. Anh đổ gục trong vũng máu, nhưng kỳ tích đã xảy ra: Tinh thần thép đã nhấc bổng cơ thể kiệt quệ ấy dậy, giúp anh lao đi giữa làn mưa đạn.
Vết thương lòng và biểu tượng bất tử
Hoạt động tích cực, xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng nên Ama Trang trở thành cái gai trong mắt kẻ thù. Chúng treo thưởng lớn cho ai chỉ điểm và bắt được anh. Thế nhưng Ama Trang là con của buôn làng nên mọi âm mưu của chúng đều thất bại.
Một lần bị thương khá nặng, anh được tổ chức đưa trở về miền Bắc điều trị phục hồi và an dưỡng. Nhưng trớ trêu thay, tại mái nhà xưa, anh đối mặt với vết thương lòng còn đau đớn hơn đạn lạc: Một bàn thờ có hình chính mình, viền khăn tang đen và một người vợ ngỡ anh đã hy sinh nên tìm bến đỗ mới. Gặp lại vợ con trong tình cảnh éo le ấy, anh không một lời oán trách. Lặng lẽ khoác ba lô, anh trở lại chiến trường. Anh hiểu rằng khi đất nước chưa trọn niềm vui thì hạnh phúc cá nhân cũng không thể trọn vẹn.
Cuộc đời Ama Trang là một vòng tròn của sự dâng hiến. Từ người mở đường, đem tri thức cách mạng tới bà con các dân tộc Tây Nguyên đến người trạm trưởng giao liên của một trong những trạm lớn nhất Đắk Lắk, Tây Nguyên. Anh nhường từng củ sắn cho lính trẻ, vận động từng hạt muối cho bộ đội. Người ta thấy anh xanh xao như tàu lá, nhưng ý chí lại sừng sững như đỉnh Chư Pông!
    |
 |
| Bộ đội hướng dẫn đồng bào Tây Nguyên cách canh tác, phát triển các loại cây công nghiệp. Ảnh: QUANG SÁNG |
Sau ngày đất nước thống nhất, gặp lại Ama Trang giữa Đà Nẵng, lòng tôi xiết bao cảm xúc. Anh có gia đình mới, đủ cả trai, gái. Thời gian đã thay đổi nhưng anh thì chẳng đổi thay. Hình bóng Ama Trang, người cha của bé Trang giữa đại ngàn năm ấy vẫn vẹn nguyên, sừng sững. Là nguyên mẫu trong tiểu thuyết “Tiếng cồng Ama” rất nổi tiếng của nhà văn Dương Kiện, nhưng với anh, được sống bên con cháu, được mọi người gọi với cái tên già Ama Trang quen thuộc là niềm vui lớn nhất, bởi nó luôn nhắc anh về một thời tuổi trẻ oai hùng cùng những tình cảm không thể nào quên mà đồng bào Tây Nguyên dành tặng. Ama Trang-danh xưng ấy không còn là tên gọi của một cá nhân mà đã hóa thành biểu tượng của một “thế hệ thép”, những người đã dùng máu đỏ để nhuộm xanh màu hy vọng, dùng nỗi đau xé lòng của riêng mình để đổi lấy nụ cười vĩnh cửu cho dân tộc.
Ama Trang giờ đây đã về với ông bà tổ tiên, nhưng anh không mất đi. Anh đã hóa thân vào hồn thiêng sông núi. Hình ảnh người cha ấy, với đôi mắt rực lửa và bước chân thần tốc, đã in tạc vĩnh hằng vào những vách đá sừng sững của Nam Sông Ba, hòa quyện vào tiếng gầm vang của thác đổ và đại ngàn Tây Nguyên hùng vĩ. Bóng hình anh chính là ngọn núi, là cánh rừng, là linh hồn bất tử canh giữ cho ánh dương bình yên mãi mãi chiếu rọi trên mảnh đất này.
Nhà văn CHÂU LA VIỆT