Dẫu biết chiến tranh không thể tránh khỏi hy sinh, mất mát, song là người chỉ đạo và tổ chức chiến đấu, ông luôn cân nhắc kỹ trước những quyết định của mình. Thiếu tướng Lê Quốc Sản viết trong hồi ký: “Mỗi lần có tin tổn thất báo về, tôi cùng tập thể Bộ tư lệnh Quân khu rất băn khoăn, đau đớn. Tôi lặng người, đầu óc tái tê, lòng quặn đau tiếc thương bao đồng chí, đồng đội đã ngã xuống. Tôi nghĩ về trách nhiệm mà mình đang gánh vác. Là người chỉ huy, chỉ đạo về mặt quân sự, tôi có trách nhiệm trước nhân dân, trước bộ đội về những mất mát, hy sinh. Bởi thế, với bản thân cũng như các cán bộ chỉ huy thuộc quyền, tôi luôn đặt yêu cầu phải thiết kế trận đánh sao cho đã đánh là đạt hiệu suất cao nhất, diệt thật nhiều sinh lực địch mà phía ta ít đổ máu nhất”.
Quá trình tác nghiệp, chúng tôi từng được gặp Thiếu tướng Lê Quốc Sản và gia đình, cũng như phỏng vấn nhiều nhân chứng cùng thời. Tất cả đều chung cảm nhận, ông là “một vị tướng quân sự nhưng rất chính trị”.
    |
 |
| Thiếu tướng Lê Quốc Sản (1920-2000). |
Là thanh niên Việt kiều yêu nước quê gốc ở Hải Hậu, Nam Định (nay là Ninh Bình), tham gia cách mạng từ năm 1945, Lê Quốc Sản bí mật hoạt động trên địa bàn hai nước Lào và Thái Lan. Năm 1946, hơn 400 thanh niên yêu nước được tổ chức thành chi đội hải ngoại mang tên Chi đội Trần Phú, hành quân từ Thái Lan về nước tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp. 15 năm sau, một cuộc hành quân tương tự lặp lại với Lê Quốc Sản khi ông được Tổng cục Chính trị giao quyết định về làm Tư lệnh Quân khu 8.
Một ngày tháng 6-1961, đoàn Phương Đông 2 gồm 3 đại đội do đồng chí Lê Quốc Sản chỉ huy từ miền Bắc hành quân vượt Trường Sơn vào bổ sung lực lượng cho các quân khu phía Nam. Sinh thời, nhớ về sự kiện này, Thiếu tướng Lê Quốc Sản kể: “Cuộc hành quân đường trường ấy diễn ra khi tôi đã ở độ tuổi trung niên. Lượng sức mình, tôi tuân thủ nghiêm các chế độ. Nhưng rồi hôm ấy, khi đang leo đỉnh dốc cao ngất, tự nhiên tôi xây xẩm đầu óc. Cơn sốt ập đến hành hạ tôi suốt nhiều giờ liền. Anh em trong đoàn bàn tính để tôi ở lại trạm giao liên vài hôm rồi sẽ theo sau. Đồng chí đoàn phó thay tôi chỉ huy và phân công hai người ở lại để giúp đỡ tôi. Nhưng tôi nghĩ, sốt gì thì sốt, cứ ráng mà đi không được rớt lại, đồng bào miền Nam đang chờ!”.
Thế là bằng sự cố gắng phi thường, dù người nóng hầm hập do sốt cao, chân tay nhiều lúc bủn rủn, ông vẫn không chịu nằm lại, quyết đi những bước dù rất nặng nhọc để theo kịp đoàn. Mỗi khi nhắc về cuộc hành quân này, mắt ông lại ầng ậc nước. Nhớ tới các đồng chí trong đoàn đã vét những muỗng đường cuối cùng dành dụm được của bản thân để pha nước cho mình, ông xúc động kể: “Đang háo và mệt, uống đường tới đâu, cơ thể tôi khỏe tới đó. Chao ôi, muỗng đường ngày ấy giá trị biết chừng nào, tình nghĩa biết chừng nào!”...
Ngay sau khi vào tới Quân khu 8, Ban chỉ huy hành quân của đoàn Phương Đông 2 được Ban Quân sự Miền triệu tập giao nhiệm vụ. Đồng chí Nguyễn Văn Linh, bấy giờ là Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, gặp, trực tiếp triển khai nghị quyết của Trung ương Cục miền Nam. Cũng trong những ngày chuẩn bị làm quen với chiến trường ấy, tại căn cứ của Trung ương Cục, ông Sản gặp Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 8 Nguyễn Minh Đường (Sáu Đường), người sau này sát cánh cùng ông qua biết bao trận đánh lớn nhỏ.
Theo hồi ức của Thiếu tướng Lê Quốc Sản, Chính ủy Nguyễn Minh Đường là một trong những người ông gắn bó, gần gũi nhất. Lúc thuận lợi cũng như khi khó khăn, hai người đều cùng nhau bàn bạc để tìm ra kế sách thắng địch, bảo tồn và phát triển LLVT cách mạng trong khu. Ông bồi hồi kể: “Cho đến nhiều năm sau này, tôi vẫn còn nhớ, trong một hội nghị rút kinh nghiệm phong trào du kích chiến tranh trên địa bàn Quân khu, có đại biểu nêu lên băn khoăn, lo lắng của mình về địa hình các tỉnh kênh rạch chằng chịt. Mùa khô cũng như mùa mưa nước lên, ruộng đồng đều trống trải khiến du kích đi lại, chiến đấu rất khó khăn và mong ước giá như miền Tây có được nhiều rừng như các tỉnh miền Đông Nam Bộ để du kích luồn lách, trụ bám mà đánh giặc “tới mút mùa”. Anh Sáu Đường lắng nghe, sau đó ôn tồn phân tích rằng đánh du kích là phải biết dựa vào địa hình, địa vật. Có địa hình nào ta đánh giặc theo địa hình đó, phải làm sao biến Quân khu 8 thành rừng. Như vậy, mỗi thôn, xóm, mỗi xã trong khu sẽ thành những khu rừng trùng điệp. Trong đó, mỗi cây rừng là một ổ chiến đấu lợi hại, mỗi thôn, xã là một trận đồ bát quái khiến quân thù đã lọt vào trong như lọt vào mê cung, không thể tìm được đường ra. Chúng ta hãy tạo cho Quân khu 8 mọc lên những khu rừng chiến đấu như vậy”.
    |
 |
| Một đơn vị Quân giải phóng tác chiến trên vùng sông nước miền Tây. Ảnh tư liệu |
Cách giải đáp thắc mắc sâu sắc của Chính ủy Nguyễn Minh Đường đã toát lên quan điểm chiến tranh nhân dân vô địch của Đảng ta, nhằm đánh bại âm mưu bình định nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long của Mỹ-ngụy.
Thực tế đã chứng minh, trong cuộc đọ sức thần kỳ với kẻ thù mạnh hơn rất nhiều về mọi mặt, cùng với cả nước, quân-dân Quân khu 8 đã lập những chiến công vang dội, góp phần vào thắng lợi chung của công cuộc giải phóng dân tộc. Sau Phong trào Đồng khởi là những Giồng Trôm, Ấp Bắc cùng các vành đai diệt Mỹ-ngụy ở khắp nơi, góp phần đập tan những “quyết sách ấp chiến lược”, “bình định có trọng điểm” cùng biết bao trận đánh lớn nhỏ, tiêu diệt nhiều sinh lực địch cho đến ngày tàn của chúng.
Trong câu chuyện của mình, Thiếu tướng Lê Quốc Sản ít nói về thành tích của bản thân mà ông thường nhắc tới đồng đội và những ký ức đẹp nhất về họ. Để ngăn cản bước tiến của quân thù, trên mảnh đất Đồng Tháp Mười thẳng cánh cò bay đã có biết bao tấm gương dũng cảm, kiên cường trong chiến đấu, công tác, xây dựng và phát triển cơ sở cách mạng. Trên các cương vị của mình, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ tư lệnh Quân khu 8, họ đã làm nên một “thành đồng Tổ quốc” nơi miền Tây sông nước. Những con người ấy đã được Tư lệnh Lê Quốc Sản nhắc tới trong niềm tự hào sâu sắc của một vị chỉ huy với niềm tin sắt đá vào cán bộ, chiến sĩ của mình. Đó là Nguyễn Thanh Hà (Mười Hà), Chính trị viên Tỉnh đội Mỹ Tho giai đoạn 1960-1967 đã cùng đơn vị lập công đầy sáng tạo với các “chiến binh ong vò vẽ”, mìn gây nổ bằng axit... Là Tiểu đoàn trưởng công binh Đặng Tiến Nghĩa (Hai Nghĩa) cùng Tiểu đoàn công binh của Tỉnh đội Mỹ Tho-lực lượng chủ chốt bám trụ Đường 4. Tại đây, địch lập tới hơn 300 đồn, bốt với hệ thống 3 tuyến gối nhau bảo vệ cầu đường nhằm bảo đảm giao thông cho lực lượng lùng bắt quân ta. Thế nhưng tất cả biện pháp của chúng dù nghiêm ngặt đến mấy cũng không thể ngăn cản nổi tiểu đoàn công binh dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Hai Nghĩa hoạt động liên tục, làm cho mạch máu giao thông chính của địch không thông suốt được lâu.
Hay đó là tấm gương của đồng chí Tám Đỉnh, Tỉnh đội phó Tỉnh đội Mỹ Tho, một nữ cán bộ trưởng thành từ sự lăn lộn với phong trào chiến tranh du kích ở cơ sở. Theo lời kể của Thiếu tướng Lê Quốc Sản, ngay từ khi là Huyện đội phó huyện Cai Lậy năm 1965, đồng chí Tám Đỉnh đã chỉ huy lực lượng dân quân du kích và bộ đội huyện rầm rộ đi phá Đường 4 suốt ngày đêm. Ban ngày, bà cho chị em làm trinh sát công khai bám hoạt động của địch trên đường, chiều muộn thì đội nam du kích đảm nhiệm. Khi đã nắm chắc quy luật hoạt động của địch, các tổ chiến đấu được thành lập. Phương án đánh cắt giao thông không trận nào giống trận nào khiến quân địch mỗi khi hành quân qua khu vực đều nơm nớp lo sợ bởi những thiệt hại không thể lường trước... Là một nhân chứng lịch sử, đảm nhận cương vị Tư lệnh Quân khu 8 nhiều năm, Thiếu tướng Lê Quốc Sản bồi hồi: “Tôi vô cùng biết ơn đồng bào, đồng chí đã hết lòng cưu mang, đùm bọc, nuôi dưỡng, cùng LLVT Quân khu trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng. Mỗi khi trở lại mảnh đất từng gắn bó, lòng tôi không khỏi chộn rộn nhớ về những ngày tháng đồng cam cộng khổ trong cuộc đọ sức năm xưa”.
NGỌC BÍCH