Đáp lời kêu gọi từ phương Nam và thực hiện mệnh lệnh của Tổng chỉ huy, Bộ Tổng Tham mưu đã chỉ thị cho các địa phương nhanh chóng lựa chọn và tổ chức các đơn vị Nam tiến. Thủ đô Hà Nội nhanh chóng có đơn vị Nam tiến đầu tiên lên đường. Ông Trần Quốc Thái, cựu chiến sĩ Chi đội Vi Dân kể lại: “Lúc bấy giờ tôi đang là học viên của lớp quân chính, được vinh dự đứng trong hàng ngũ 72 con em Thủ đô lên đường Nam tiến đợt đầu. Tạm biệt 36 phố phường, nơi đã để lại trong tôi bao kỷ niệm vui buồn của tuổi ấu thơ. Trước ngày lên đường, chúng tôi được bác sĩ Trần Duy Hưng, Chủ tịch Ủy ban hành chính Hà Nội tiếp và dặn dò, giao nhiệm vụ. Thay mặt nhân dân Thủ đô, đồng chí tặng Chi đội tôi lá cờ đỏ sao vàng khổ lớn”.

Tiếp theo Chi đội Nam tiến đầu tiên của Hà Nội, phong trào Nam tiến nhanh chóng lan rộng ra khắp các địa phương ở miền Bắc, miền Trung và cả ở hải ngoại. Nhiều chi đội Nam tiến được thành lập và tiếp tục lên đường vào Nam chiến đấu. Càng gần đến những ngày giáp Tết Bính Tuất, bầu không khí Nam tiến hầu như bao trùm lên tất cả phố phường, các sân ga, đầu mối giao thông. Trên các con phố ở Thủ đô Hà Nội xuất hiện nhiều bàn ghi tên thanh niên tình nguyện ra trận.

Trong khi hoa đào đã khoe sắc khắp các phố phường, ngõ ngách thì tại ga Hàng Cỏ, các đoàn tàu liên tục rời ga hối hả lao về phương Nam. Trước sự có mặt của lãnh đạo thành phố, chỉ huy Bộ Tổng Tham mưu và nhiều người thân đưa tiễn, các Chi đội Nam Long, Vi Dân... bịn rịn chia tay đồng bào Thủ đô trong bầu không khí rợp cờ hoa và cả những giọt nước mắt. Họ mang theo sắc xuân của cái Tết độc lập đầu tiên ở Thủ đô đến với đồng bào miền Nam đang chiến đấu ngăn chặn bước tiến của quân xâm lược.

leftcenterrightdel
Minh họa: LÊ HẢI

Cùng với Hà Nội, các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Yên cũng tổ chức một chi đội Nam tiến mang tên Chi đội Bắc-Bắc-Quảng. Ông Ngô Tử Vân, nguyên là chiến sĩ Chi đội Bắc-Bắc-Quảng, kể lại: “Ngày ấy, sau khi tham gia bỏ phiếu bầu Quốc hội khóa I, chúng tôi mang theo rất nhiều quà Tết tập trung lên 3 chiếc tàu thủy mang tên Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư và Ký Con. Theo lệnh của Chi đội trưởng Lư Giang và Chính trị viên Lê Văn Lương, 3 con tàu dàn hàng ngang trước đền Kiếp Bạc làm lễ tuyên thệ trước anh linh tiên tổ rồi kéo còi rời Lục Đầu giang hướng thẳng về phương Nam.

Trên đường tàu đi ra cửa biển, dọc hai bên bờ sông, hàng chục thanh niên vẫn đuổi theo xin được vào Nam đánh giặc. Khi tàu vừa rời đất liền, chúng tôi vinh dự nhận được thư chúc mừng xuân sớm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lời trong thư thật giản dị và xúc động, tôi còn nhớ như in một đoạn: “Nghe tin các cháu tình nguyện nhiều lần, nay đã được cấp trên đồng ý cho Nam tiến ủng hộ bộ đội và đồng bào trong Nam đánh giặc. Tôi hoan nghênh lòng yêu nước của các cháu... Các cháu vào Nam phải thực hiện đoàn kết Bắc-Trung-Nam, gương mẫu, dũng cảm khắc phục khó khăn...”. Tỉnh Nam Định có Chi đội Thu Sơn; các tỉnh Thái Bình, Hải Phòng, Kiến An có Chi đội Hải-Kiến-Thái; tỉnh Cao Bằng có Chi đội Hoàng Đình Giong; tỉnh Thanh Hóa có Chi đội 3; tỉnh Ninh Bình có Chi đội Hoa Lư; tỉnh Nghệ An có Chi đội Nguyễn An...

Hồi đó, trừ một số ít hành quân bằng đường thủy, còn phần lớn các chi đội Nam tiến ở các tỉnh phía Bắc đều tập kết về Nam Định rồi lên tàu vào Nam. Ông Nguyễn Chính, nguyên Thư ký Văn phòng Khu giải phóng nhớ lại: “Trên sân ga Nam Định ngày ấy bao phủ một bầu không khí sôi động và hoành tráng. Trước giờ lên tàu, Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái dáng người cao lớn đứng trước hàng quân bắt nhịp hành khúc “Phất cờ Nam tiến” do chính ông sáng tác:

Cờ giải phóng phất cao mau thẳng tiến

Trời phương Nam dân chúng đang chờ ta

Mau phất cờ lên, tiến tới cho kịp thời cơ

Sông Cửu Long reo hò kia đang đón chờ

Dãy Trường Sơn mau chuyển mình giục quân ta mau tiến tới...

Hưởng ứng lời kêu gọi của Bộ Tổng chỉ huy, cùng với tổ chức các đơn vị Nam tiến, khắp nơi trong cả nước đã thành lập “Quỹ Nam Bộ” nhằm quyên góp tiền của mua vũ khí, thuốc men, quân trang gửi vào miền Nam; các tỉnh ở Bắc Bộ và Trung Bộ đều thành lập các phòng Nam Bộ để điều phối lượng vũ khí, nhu yếu phẩm, thuốc men quyên góp được và tuyển chọn người Nam tiến.

Càng đến những ngày giáp Tết, sắc xuân đổ dồn về các sân ga-nơi hằng ngày, hằng giờ chứng kiến bao cuộc chia tay mà không hẹn ngày trở lại. Tất thảy mọi người đều tạm gác lại phong tục sum họp ngày Tết để dõi theo “tiếng kêu sơn hà nguy biến”. Dọc đường hành quân, tàu đến ga nào cũng được đông đảo nhân dân địa phương mang quà bánh, hương vị Tết ra úy lạo.

Trong hồi ký, bà Phan Thị Quế, cựu chiến sĩ Nam tiến nhớ lại: “Nghệ An quê tôi hồi đó, phụ nữ cũng tình nguyện tham gia Nam tiến đông lắm. Chỉ huy bảo tôi: “Vóc người em còm nhom thế này thì Nam tiến sao được”. Tôi cự lại “Còm là còm thế nào. Em học cứu thương ra mà”, thế rồi năn nỉ mãi cuối cùng cũng được gia nhập chi đội do anh An-từng phục vụ trong quân đội Pháp, sau đi theo cách mạng phụ trách. Chúng tôi hành quân bằng chuyến tàu hỏa riêng; ngày lên đường có quân nhạc đưa tiễn đến tận sân ga Vinh trong tiếng hoan hô của đông đảo bà con thành Vinh.

Cận kề ngày Tết mà ra đi quả cũng ngậm ngùi, nhớ nhung, lưu luyến, nhưng rồi cái háo hức của tuổi trẻ, niềm vinh dự được đứng trong đoàn quân Nam tiến đã sớm xua tan nỗi nhớ nhà, nhớ Tết quê. Dọc đường hành quân qua mỗi miền quê, ngồi trên tàu ngó qua cửa sổ, chúng tôi cảm nhận được không khí Tết đang đến thật gần. Từ ga Chợ Thượng trở vào, đến ga nào chúng tôi cũng đều nhận được quà Tết của bà con địa phương, tình cảm thật sâu đậm...”.

Không chỉ ở trong nước, mà Việt kiều ở Thái Lan, Lào, Campuchia cũng hăng hái hưởng ứng phong trào Nam tiến. Theo hồi ký của ông Lê Quốc Sản, nguyên Chi đội phó Chi đội Trần Phú, thì hồi đó, khi nghe tin quân Pháp gây hấn ở Sài Gòn, các tổ chức Việt kiều yêu nước ở Thái Lan và Lào đã tổ chức các chi đội hải ngoại và mua nhiều vũ khí gửi về “chia lửa” cùng đồng bào trong nước. Nhiều chi đội như: Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân, Bộ đội hải ngoại Cửu Long, Chi đội Trần Phú... đã về nước sát cánh chiến đấu cùng quân và dân Nam Bộ từ rất sớm, góp phần ngăn chặn, làm chậm bước tiến của quân xâm lược trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Nam tiến đã trở thành một phong trào sâu rộng khắp 3 miền Bắc-Trung-Nam và vượt cả ra ngoài biên giới quốc gia. Nó vượt qua cả khái niệm địa lý tiến về phương Nam, mà đạt tới chiều sâu của chân lý: “Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam”; của tinh thần: Cả nước hướng về miền Nam thành đồng. Trong làn gió xuân nhè nhẹ ngày ấy, những anh lính Cụ Hồ vừa được hưởng niềm vui độc lập chưa bao lâu đã lại phải chia tay người thân đúng vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc, hướng theo “tiếng súng vang sông núi miền Nam, ầm ầm đất nước Việt Nam...”.

Ra đi ở tuổi mười tám, đôi mươi, các anh đâu có nghĩ rằng phải trải qua một cuộc trường chinh kéo dài đằng đẵng 30 năm mới thực hiện được trọn vẹn lời thề: Bao giờ kháng chiến thành công/ Chúng ta cùng uống một chung rượu đào! (“Gửi cho các chiến sĩ”, thơ chúc Tết Bính Tuất 1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh).

TRẦN VĨNH THÀNH