48 năm sau, người cựu tù Côn Đảo mới có dịp chia sẻ với bạn đọc Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng ký ức ngày nào…

Ông là Trần Quang Hưng, năm nay 74 tuổi, ngụ ở quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh. Chúng tôi biết đến ông trong một dịp đi tìm tư liệu, nhân chứng về cựu tù Côn Đảo. Ông là con nuôi của đồng chí Hoàng Dư Khương (Năm Khương), Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Nam Bộ trong những năm đầu kháng chiến chống Mỹ. Nhắc đến những nhân chứng cựu tù Côn Đảo, ở Thành phố mang tên Bác, khá nhiều người biết đến ông. Mọi người yêu quý, cảm phục trước những việc làm ân nghĩa của ông dành cho cha nuôi, từng là người thầy, người lãnh đạo phong trào đấu tranh của tù nhân trong “địa ngục trần gian” Côn Đảo, đã định hướng lý tưởng cách mạng, dìu dắt, nâng đỡ ông trong những năm tháng bị giam cầm trong tù ngục của chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm.

Đón chúng tôi tại nhà riêng, trước khi tiếp chuyện, ông Hưng đốt nhang, kính cẩn cúi đầu trước bàn thờ cụ Năm Khương, tưởng niệm người cha nuôi. Đoạn, ông chậm rãi kể về những năm tháng bị giam cầm ở nhà tù Côn Đảo và kỷ niệm với người cha nuôi của mình. Ông vẫn nhớ rất rõ, lần ấy, kẻ thù chở ông cùng hàng trăm đồng chí khác trên một con tàu hải quân. Tất cả đều bị địch cùm chân vào các thanh sắt dài được móc, hàn chắc chắn trên sàn tàu, boong tàu. Để tránh tai mắt của nhân dân, đề phòng biểu tình, gây sức ép đòi thả tù nhân cộng sản, kẻ thù chọn thời điểm hành động vào ban đêm. Nửa đêm về sáng, chúng lùa tù nhân từ các nhà lao ra bến cảng, áp giải trên những chiếc xe bít bùng kín mít. Xuống tàu, chúng sử dụng dùi cui, đẩy từng tốp người một xuống xích, cùm chân vào các vị trí đã định. Những ai tỏ ý chống đối, lập tức bị những tên cai ngục, lính canh dùng dùi cui, báng súng thúc vào bụng, đánh tét đầu…

leftcenterrightdel
Ông Trần Quang Hưng. 
Trước khi thực hiện hải trình ra Côn Đảo, con tàu vận tải quân sự ghé vào cảng Nhà Bè lấy dầu. Trong lúc bơm dầu, bọn chúng bất cẩn làm dầu nhớt văng tung tóe lên sàn và boong tàu, bắn vào cả vị trí các tù nhân đang bị cùm. “Một bãi dầu nhớt loang tới chỗ tui bị cùm, thấm vào quần áo, da thịt gây cảm giác rất khó chịu. Một số đồng chí bị dầu nhớt thấm vào vết thương gây đau, rát, lên tiếng yêu cầu được lau chùi, liền bị bọn lính canh chửi bới, tát vào mặt. Hai chân tui trơn tuột. Trong lúc cựa quậy, tui phát hiện ra bàn chân mình nhỏ hơn những người khác nên tui lấy bàn chân nọ bôi dầu lên bàn chân kia tạo độ trơn, nhầy rồi cứ nhích từng chút một. Cuối cùng, tui đưa được cả hai chân ra khỏi cùm…”-ông Hưng nhớ lại.

Ngồi cạnh chàng thanh niên nhỏ thó, đồng chí Năm Khương đoán biết được ý định của Hưng nên ông cố xoay lưng, khom người, che tầm nhìn của đám lính canh cho Hưng hành động. Khi tàu bơm dầu xong, nhổ neo rời cảng Nhà Bè hướng ra biển, Hưng ghé tai đồng chí Năm Khương:

- Chú ơi! Con trốn nha!

Đồng chí Năm Khương khẽ gật đầu. “Chuyện vượt ngục bỏ trốn đối với anh chị em tù nhân xảy ra không hiếm. Phương châm hành động của tụi tui lúc bấy giờ là “khi không còn lối thoát sẽ tìm ra lối thoát”, “không ai muốn ở tù nhưng đã ở tù thì ai cũng muốn thoát”-ông Hưng nói.

Tàu chạy qua sông Lòng Tàu. Như thường lệ, địch cho tắt hết đèn pha để tránh bị Đặc công rừng Sác của ta tập kích. Lợi dụng bóng tối, ông Hưng bò giữa hai hàng tù nhân lần ra lan can tàu. Trước khi Hưng rời vị trí, đồng chí Năm Khương ghé tai, dặn: “Cẩn thận nha con”! Hưng đáp: “Dạ”! Các đồng chí của ta khom người che chắn cho Hưng. Thoắt cái, Hưng đã tiến sát mạn tàu. Là người giỏi bơi lội, Hưng nhún chân, lấy hết sức bật ra xa mạn tàu để tránh bị cuốn vào chân vịt rồi “bủm” xuống nước. Ông lặn một hơi thật sâu rồi nhẹ nhàng bơi vào rừng Sác.

Sau khi phát hiện có tù nhân nhảy tàu, địch liên lạc về đất liền yêu cầu đổ quân bao vây. Hàng chục chiếc ca-nô đem theo hàng trăm cảnh sát, lính thủy và chó nghiệp vụ sục sạo. Do không thông thạo địa hình, lại bị đói lả đi nên mới lẩn trốn trong rừng Sác được một ngày, ông Hưng đã bị địch phát hiện, bắt lại. Địch áp giải ông về Sài Gòn, tra tấn thừa sống thiếu chết. Mấy tháng sau, chúng tiếp tục đưa ông ra Côn Đảo trên một chuyến tàu khác.

Ra Côn Đảo, ông Hưng bị giam chung lao và “chuồng cọp” với đồng chí Năm Khương. “Những năm tháng trong “địa ngục trần gian” Côn Đảo, được sự gần gũi, quan tâm dìu dắt của đồng chí Năm Khương và những cán bộ thế hệ cha anh, những người tù trẻ như tụi tui có được chỗ dựa tinh thần vững chắc, sống và chiến đấu vì lý tưởng cách mạng. Tui xin được làm con nuôi của ông và được ông dành tình cảm, sự yêu thương như tình máu mủ ruột rà”-ông Hưng kể.

Đồng chí Năm Khương là cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng ở miền Nam. Sau khi bị bắt năm 1957, chính quyền Diệm đã tìm mọi cách mua chuộc, chiêu dụ, mời ông “hợp tác” nhưng không thành. Bất lực, chúng biệt giam ông hết nhà tù này đến nhà tù khác, áp dụng đủ cực hình tra tấn dã man nhưng kẻ thù không thể khuất phục ông. Tại Côn Đảo, đồng chí Năm Khương tiếp tục lãnh đạo phong trào đấu tranh của tù nhân chống ly khai. Ông bị giam ở xà lim, “chuồng cọp” nhiều năm, bị tra tấn chết đi sống lại nhiều lần. Sau Hiệp định Paris năm 1973, ông được Đảng, Nhà nước đưa ra Hà Nội điều trị thương tật, nhưng do bị địch tra tấn tàn khốc, bệnh bại liệt của ông không thể cứu chữa được, ông qua đời năm 1983. Tên ông được lấy đặt cho một con đường và trường học ở TP Đà Nẵng cùng một con đường ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.

Sau ngày đất nước thống nhất, ông Hưng thực hiện tâm nguyện của mình, luôn gần gũi chăm sóc, phụng dưỡng cha nuôi. Từ ngày cụ Năm Khương tạ thế, ông lập bàn thờ tại nhà riêng để thờ phụng.

Bài và ảnh: NGUYỄN THẾ TRUNG